10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Giết người chưa thành bị phạt bao nhiêu năm tù?

Tội giết người chưa thành là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội. 

Vậy, giết người chưa thành bị phạt bao nhiêu năm tù?

Trong đó, giết người không thành là hành vi cố ý thực hiện tội phạm giết người nhưng không thực hiện đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội, chưa gây ra hậu quả làm thiệt hại đến tính mạng của người khác.

Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu bài viết tư vấn chi tiết của Luật sư dưới đây

1. NHƯ THẾ NÀO LÀ CỐ Ý GIẾT NGƯỜI CHƯA THÀNH?

Giết người là hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật, được thực hiện bởi chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ.

Hành vi tước đoạt sinh mạng của tội phạm giết người dẫn đến khả năng chấm dứt sự sống, gây ra cái chết cho người khác. Như vậy:

• Người thực hiện hành vi giết người nếu gây ra hậu quả làm chết người: bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người (nếu thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm)

• Người thực hiện hành vi giết người nhưng hậu quả chết người không xảy ra: vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người.

“Cố ý giết người chưa thành là hành vi phạm tội chưa đạt, tội phạm đã thực hiện hành vi giết người nhưng hậu quả chết người không xảy ra”

2. PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT LÀ GÌ?

Theo quy định tại Điều 15 BLHS 2015, phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Theo đó Bộ luật hình sự đã quy định, hành vi phạm tội chưa đạt đòi hỏi phải thoả mãn cả ba dấu hiệu sau đây:

– Thứ nhất, người phạm tội đã thực sự bắt tay vào việc thực hiện tội phạm. Có nghĩa là họ đã thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội giết người (ví dụ: chuẩn bị dao, đâm vào người nạn nhân…)

– Thứ hai, người phạm tội chưa thực hiện được tội phạm đến cùng về mặt pháp lý. Nghĩa là trong hành vi phạm tội của họ chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm mà họ có ý định thực hiện. Cụ thể, người phạm tội đã thực hiện được hành vi giết người nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra.

– Thứ ba, người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng nhưng trên thực tế, họ không thực hiện được tội phạm đến cùng là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ (người bị hại tránh được, có người can ngăn kịp thời, được cứu chữa kịp thời,…)

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công

Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi mà họ đã thực hiện, “Phạm tội chưa đạt” được phân ra thành phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.

1. Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi) là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó người phạm tội vì những nguyên nhân khách quan mà chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm, do đó, hậu quả của tội phạm đã không xảy ra.

2. Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành chưa đạt về hậu quả, đã hoàn thành về hành vi) là trường hợp người phạm tội đã thực hiện được hết những hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả, nhưng hậu quả đã không xảy ra do nguyên nhân ngoài ý muốn.

3. GIẾT NGƯỜI CHƯA THÀNH VẪN PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Để răn đe và hạn chế triệt để loại Tội phạm giết người, hành vi giết người chưa thành vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người.

Vì trong giai đoạn phạm tội chưa đạt, người phạm tội đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, xâm phạm đến tính mạng con người – quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.

Do đó, mọi trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự, bất kể đó là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng.

Về mức độ trách nhiệm hình sự của hành vi giết người nhưng không thành, do tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chưa đạt so với tội phạm hoàn thành nên luật hình sự cũng quy định trách nhiệm hình sự nhẹ hơn so với tội phạm đã hoàn thành.

4. TỘI GIẾT NGƯỜI CHƯA THÀNH BỊ PHẠT BAO NHIÊU NĂM TÙ?

4.1. Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với Tội giết người:

Căn cứ theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội giết người, hình phạt cao nhất mà người đã phạm tội phải chịu là phạt tù từ 12 năm cho đến 20 năm, tù chung thân hoặc hình phạt tử hình.

(1) Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

  • Giết 02 người trở lên;
  • Giết người dưới 16 tuổi;
  • Giết phụ nữ mà biết là có thai;
  • Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
  • Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
  • Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  • Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
  • Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
  • Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
  • Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
  • Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
  • Thuê giết người hoặc giết người thuê;
  • Có tính chất côn đồ;
  • Có tổ chức;
  • Tái phạm nguy hiểm;
  • Vì động cơ đê hèn.

(2) Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

(3) Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

(4) Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

4.2. Nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp giết người không thành

Quyết định hình phạt về phạm tội chưa đạt được quy định cụ thể trong Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

– Đối với hành vi phạm tội chưa đạt thì hình phạt sẽ được quyết định theo những điều luật của Bộ luật Hình sự về tội phạm tương ứng theo các tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, và cả mức độ thực hiện ý định phạm tội cũng như những tình tiết khác mà làm cho tội phạm này không được thực hiện cho đến cùng.

– Cụ thể đối với trường hợp phạm tội chưa đạt thì nếu như điều luật áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc là hình phạt tử hình thì sẽ áp dụng phạt tù đối với người phạm tội không quá 20 năm tù giam, còn nếu là hình phạt tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng sẽ là không quá ba phần tư mức phạt tù của điều luật quy định.

4.3. Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với tội giết người nhưng không thành

Như vậy, căn cứ theo các quy định cụ thể trên thì đối với tội cố ý giết người không thành thì hình phạt cao nhất mà khung điều luật áp dụng cho tội này là từ 12 năm cho đến 20 năm, tù chung thân hoặc hình phạt tử hình. Cụ thể:

– Nếu như khung hình phạt được áp dụng cho tội giết người của người phạm tội là 12 năm tù cho đến 20 năm tù trong điều luật thì người phạm tội giết người chưa đạt có thể chịu hình phạt cao nhất là tù có thời hạn là từ 9 năm cho đến 15 năm do giết người không thành.

– Nếu như khung hình phạt được áp dụng cho tội giết người của người phạm tội là tử hình hoặc chung thân thì người phạm tội chưa đạt có thể chịu hình phạt cao nhất là 20 năm tù giam do giết người không thành.

Luật sự tư vấn luật dân sự1

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công về Hành vi giết người chưa thành

1. Giết người chưa thành là hành vi phạm tội giết người chưa đạt, vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người.

2. Giết người chưa thành có thể chịu hình phạt cao nhất là 20 năm tù => nếu như khung hình phạt được áp dụng cho tội giết người tương ứng là tử hình hoặc chung thân

3. Giết người chưa thành có thể chịu hình phạt tù có thời hạn là từ 9 năm cho đến 15 năm => nếu như khung hình phạt được áp dụng cho tội giết người tương ứng là từ 12 đến 20 năm.

5. TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI GIẾT NGƯỜI CHƯA THÀNH

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự gây ra và mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý nghiêm khắc.

Tuy nhiên, BLHS cũng có các quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đó là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự có nguyên nhân từ việc mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như sau:

“Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Hành vi giết người không thành không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đủ 2 điều kiện sau:

– Điều kiện 1: Người thực hiện hành vi trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác

– Điều kiện 2: Làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

  • Bệnh tâm thần hoặc bệnh khác hay còn gọi là chứng rối loạn sức khỏe tâm thần, đề cập đến một loạt tình trạng sức khỏe tâm thần – các chứng rối loạn ảnh hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ và hành vi của bạn.
  • Loại bệnh này có nguyên nhân khách quan, tức là người bệnh hoàn toàn không mong muốn và nó diễn ra một cách tự nhiên có thể do sự tác động từ yếu tố di truyền hoặc do môi trường.
  • BLHS quy định những trường hợp mặc bệnh do các yếu tố này là những người mất năng lực hành vi do đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà họ gây ra.

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công về phân biệt tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi 

1. Do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác: không phải chịu trách nhiệm hình sự

2. Do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác: gây ra mất khả năng nhận thức ngay tức thì, tình trạng này chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian và sau đó thì người sử dụng trở lại trạng thái bình thường.

Theo quy định Điều 13 BLHS 2015: người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up