10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tội Cố Ý Gây Thương Tích Hoặc Gây Tổn Hại Cho Sức Khỏe Của Người Khác Theo Quy Định Mới Nhất

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC THEO QUY ĐỊNH MỚI NHẤT

“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác” là một trong các loại tội phạm có tần suất diễn ra hàng ngày và ngày càng phổ biến trong cuộc sống. Xét thấy tính chất nguy hiểm, hậu quả của tội phạm này đối với quyền được tôn trọng, bảo vệ thân thể của công dân nói riêng và an ninh, trật tự xã hội nói chung.

Nay Hãng Luật Thành Công kính gửi đến Quý khách hàng, Quý độc giả bài viết với chủ đề “TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC THEO QUY ĐỊNH MỚI NHẤT”.

Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Luật sư Hồ Đặng Lâu thuộc Hãng Luật Thành Công tìm hiểu các nội dung sau đây:

luật sư hồ đặng lâu

BÀI VIẾT NÀY BAO GỒM NHỮNG MỤC CHÍNH SAU ĐÂY:

I. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH (Hợp nhất Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018). 

– Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

– Bộ luật Dân sự 2015.

– Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

– Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

 

II. Những yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Thế nào là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác?

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác thuộc nhóm “các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự hiện hành.

Theo đó, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác. Cụ thể, là hành vi “cố ý” xâm phạm đến thân thể, gây hại cho sức khỏe người khác dưới dạng gây thương tích. Theo đó, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bị coi là “tội phạm” khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự hiện hành.

2. Các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 16 tuổi). Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

b. Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Là hành vi “cố ý” làm cho người khác bị thương hoặc thiệt hại, làm giảm sút, suy giảm về sức khỏe.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Đây là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất với những dấu hiệu pháp lý sau:

– Hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của tội phạm này là sự tác động đến thân thể, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây ra những thương tích và tổn hại đến sức khỏe.

– Hậu quả:

Hậu quả được thể hiện dưới hai dạng:

+ Gây thương tích là những tổn thương gây ra trên cơ thể của người khác mà có thể dùng mắt thường để nhận biết được.

Ví dụ: A dùng tay đấm vào mặt B tạo vết bầm lớn trên mặt

+ Gây tổn hại cho sức khỏe là những tổn thương gây ra trên cơ thể của người khác và phải dùng các phương pháp khoa học kỹ thuật mới có thể xác định được.

Ví dụ: A dùng gậy đánh vào người B, kết quả giám định B bị gãy xương sườn.

Ngoài ra, hậu quả tội phạm này gây ra là thương tích hoặc tổn thương có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên (đến 30%). Như vậy, những trường hợp gây tỷ lệ thương tật dưới 11% sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự vì chưa đủ điều kiện để cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự hiện hành thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe: Hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe là do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe gây ra

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, có thể là cố ý gián tiếp hoặc cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình có thể gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.

luật sư hồ đặng lâu

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu về các yếu tố cấu thành tội phạm “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác”:

1. Hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức và công cụ, phương tiện phạm tội khác nhau như (bắn, đâm, chém, đầu độc, ném đá,…) hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội như (đấm, đá, tát, cắn,…) hoặc sủ dụng súc vật như (thả chó cắn, trâu-bò húc,..) hoặc gián tiếp dùng cơ thể người khác như (nắm tay, chân người khác đấm, đá, đánh,..).

2. Không phải tất cả các trường hợp gây tỷ lệ thương tật dưới 11% đều không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nếu tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự hiện hành thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Cần phân biệt những trường hợp gây thương tích có tỷ lệ thương tật dưới 11% không thuộc các trường hợp tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự hiện hành với trường hợp “phạm tội chưa đạt” rằng nhận thức và mong muốn của người phạm tội là muốn gây ra hậu quả thương tích lớn nhưng vì lý do khách quan, ngoài ý muốn nên thương tích gây ra có tỷ lệ thương tật dưới 11%.

4. Người phạm tội chỉ có nhận thức và mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe xảy ra chứ không phải hậu quả chết người. Vì vậy, nếu người phạm tội có ý thức và mong muốn hoặc để mặc cho “hậu quả chết người” xảy ra thì người phạm tội phải được xác định là “giết người chưa đạt” chứ không còn là “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

III. Mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong trường hợp có tỷ lệ thương tật dưới 11% và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS hiện hành sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự do không đủ dấu hiệu phạm tội để để khởi tố vụ án hình sự.

Tuy nhiên, người phạm tội này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm e Khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Cụ thể: “Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác”.

IV. Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gấy thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự hiện hành với các khung hình phạt như sau:

1. Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp cụ thể sau đây:

+ Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Hung khí gây nguy hiểm có thể là súng, dao găm, bom, mìn, lựu đạn…; thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người như: đầu độc vào thức ăn chung của gia đình, dùng bom xăng,…

+ Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm

+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

*Lưu ý: Đối với trường hợp phụ nữ có thai phải có căn cứ xác định rằng người phạm tội biết và đủ căn cứ để biết rằng người phụ nữ đó đang mang thai nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội thì mới thuộc quy định tại trường hợp này.

+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình

+ Có tổ chức (mang tính đồng phạm, có 02 trở lên, bàn bạc, cấu kết để thực hiện hành vi phạm tội)

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

+ Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

+ Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê

+ Có tính chất côn đồ – côn đồ được hiểu là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người. (Công văn số 38/ NCPL ngày 06-01-1976 của Toà án nhân dân tối cao và Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1995)

+ Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

2. Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Tái phạm nguy hiểm;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS hiện hành.

3. Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự hiện hành;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS hiện hành;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS hiện hành.

4. Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm

+ Làm chết người;

+ Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS hiện hành;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS hiện hành.

5. Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

+ Làm chết 02 người trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS hiện hành.

6. Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

Người phạm tội sẽ bị áp dụng mức phạt trên đối với trường hợp “chuẩn bị” vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu trong trong việc xác định tỷ lệ thương tật:

1. Để xác định tỷ lệ thương tật của nạn nhân phải căn cứ vào Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 12/6/2014 quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

2. Dù hậu quả của tội phạm ở dạng nào cũng đều phải xác định trên cơ sở tỷ lệ thương tật để làm cơ sở xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

3. Một số văn bản pháp luật được dẫn chiếu trong bài viết có thể hết hiệu lực tại thời điểm Quý khách hàng tra cứu. Do đó, để tối ưu nhất Quý khách hàng vui lòng liên hệ đến Hãng Luật Thành Công để được đội ngũ Luật sư tư vấn pháp luật miễn phí và chính xác nhất.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

V. Xử lý trách nhiệm hình sự trong trường hợp người bị hại có đơn bãi nại

Tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 quy định chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 điều 134 BLHS hiện hành khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Theo đó, nếu người bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án thì Cơ quan điều tra sẽ tiến hành tuy tố trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, chấm dứt các hoạt động tố tụng và người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Việc rút yêu cầu khởi tố được xem là hợp pháp khi người khởi tố hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, đe dọa, cưỡng bức từ người khác.

Tuy nhiên, trong trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì dù đã rút yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Một số lưu ý của Luật sư Hãng Luật Thành Công về khởi tố và rút đơn khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại:

  1. Không phải tất cả các trường hợp phạm tội nào chỉ khi có yêu cầu của người bị hại thì mới bị khởi tố. Theo đó, chỉ có các trường hợp phạm tội được quy định tại Khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 bị khởi tố khi có yêu cầu từ phía người bị hại. Còn đối với các trường hợp tội phạm khác không thuộc các trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại nêu trên thì cơ quan điều tra vẫn có quyền truy tố và khởi tố trách nhiệm hình sự mà không phụ thuộc vào việc có hay không có yêu cầu khởi tố của người bị hại.
  2. Người rút yêu cầu khởi tố phải chính là người đã làm đơn yêu cầu khởi tố, nếu người yêu cầu khởi tố và người rút yêu cầu khởi tố là hai người khác nhau thì việc rút yêu cầu khởi tố đó không được coi là hợp pháp và không được chấp nhận.
  3. Việc rút yêu cầu khởi tố phải được thực hiện trước khi phiên tòa sơ thẩm diễn ra, nếu đến khi phiên tòa sơ thẩm diễn ra mới có yêu cầu rút yêu cầu khởi tố thì việc rút này không được được chấp nhận và phiên Tòa vẫn sẽ diễn ra.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

VI. Điều kiện xin án treo đối với tội cố ý gấy thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Án treo là gì?

Án treo là biện pháp “miễn chấp hành” hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội “bị phạt tù không quá 03 năm”, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. (Điều 1 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo).

2. Điều kiện hưởng án treo

Để được hưởng án treo đối với “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” người phạm tội phải đáp ứng các điều kiện sau đây: (Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP)

Thứ nhất, người phạm tội này có thời gian bị xử phạt tù là không quá 03 năm. Điều này đồng nghĩa các trường hợp có thời gian bị xử phạt tù từ 03 năm trở lên sẽ không đủ điều kiện để được xét án treo.

Thứ hai, người phạm tội có nhân thân tốt. Cụ thể:

– Có nhân thân tốt là nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

– Trưòng hợp người phạm tội này đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

Thứ ba, người phạm tội có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hiện hành và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự hiện hành.

Thứ tư, người phạm tội phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Thứ năm, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu về điều kiện được hưởng án treo “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”

1. Án treo là trường hợp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải là một loại hình phạt.

2. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

3. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

4. Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

VII. Mức bồi thường trách nhiệm dân sự đối với tội cố ý gấy thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phạt hành chính thì có thể phải bồi thường trách nhiệm dân sự nếu gây thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại theo quy định tại Điều 590 BLDS 2015, cụ thể:

– Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

– Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

– Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài việc người phạm tội phải chịu trách nhiệm bồi thường các loại chi phí, thiệt hại nêu trên thì còn phải bồi thường thêm một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị hại gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hàng trong và ngoài nước.               

Với phương châm là “Sự hài lòng của Quý khách hàng chính là tiêu chí để đáng giá chất lượng dịch vụ của chúng tôi”, chúng tôi cam kết cung cấp các dịch vụ có chất lượng vượt trội hơn so với sự mong đợi của Quý khách hàng, với thái độ tận tậm, tận tụy, chuyên nghiệp, coi quyền lợi của Quý khách hàng chính là quyền lợi của Công ty để nỗ lực đạt được kết quả cuối cùng thật sự hoàn hảo và thoả mãn được các yêu cầu của Quý khách hàng.

Uy tín của Hãng Luật Thành Công đã được nhiều Lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp chứng nhận:

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh tụng, đã và đang tham gia nhiều vụ án hình sự với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.

Đặc biệt, đến với chúng tôi Khách hàng sẽ được tư vấn pháp luật trực tiếp bởi các Luật sư hàng đầu của Hãng Luật Thành Công. Để tránh mất nhiều thời gian tìm kiếm nguồn thông tin, lại gặp những kiến thức không chuyên môn, chưa giải đáp được vấn đề đang gặp phải.

Khách hàng vui lòng để lại thông tin liên hệ, Hãng Luật Thành Công sẽ chủ động liên lạc lại với Quý khách trong thời gian sớm nhất.

Hoặc để thuận tiện hơn, Quý khách hàng nên gọi ngay đến số:  1900 633 710 để được nhận tư vấn rõ ràng, chuẩn xác từ các Luật sư đầu ngành. Hàng luật Thành Công sẽ giúp bạn tiết kiệm đối đa thời gian và công sức để tra cứu trên các website luật pháp không chính thống.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

  • Trụ sở chính: Số 114D đường Lê Lợi, Phường 4, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
  • CN Hóc Môn: Số 004A-004B Bùi Công Trừng, Ấp 3, Xã Đông Thạnh, Huyện Hóc Môn, TP. HCM
  • Hotline:  1900 633 710
  • Email:  congtyluatthanhcong@gmail.com
  • Website: hangluatthanhcong.vn

 

5/5

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up