10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tội Cướp Giật Tài Sản Theo Quy Định Bộ Luật Hình Sự Mới Nhất

TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỚI NHẤT

Hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt là các tội phạm xâm phạm đến quan hệ sở hữu, trong đó có “tội cướp giật tài sản”. Tội phạm này được quy định tại Điều 171 Chương “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS hiện hành. Đây là tội phạm khá quen thuộc vì có tần suất diễn ra hàng ngày. Với tính chất nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nói chung và quan hệ sở hữu của cá nhân nói riêng. Nay Hãng Luật Thành Công kính gửi đến Quý khách hàng, Quý độc giả bài viết với chủ đề “TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỚI NHẤT”.

Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu các nội dung sau đây:

luật sư hồ đặng lâu

BÀI VIẾT NÀY BAO GỒM NHỮNG MỤC CHÍNH SAU ĐÂY:

I. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH (Hợp nhất Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018)

– Bộ luật Dân sự 2015

– Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo

– Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp các vấn đề nghiệp vụ

II. Những yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản

1. Tội cướp giật tài sản là gì?

Cướp giật tài sản là hành vi cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai và nhanh chóng nhằm tránh sự phản kháng của chủ tài sản rồi tẩu thoát. Công khai có nghĩa là không che giấu hành vi phạm tội và nhanh chóng là thực hiện hành vi phạm tội trong một thời gian ngắn.

2. Các yếu tố cấu thành tôi phạm

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cướp giật tài sản là chủ thể thường có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Cụ thể:

– Từ đủ 16 tuổi trở lên thì chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2, 3 và 4 Điều 171 vì có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt này là tù chung thân. Đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 171 vì có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội với mức cao nhất của khing hình phạt là 05 năm tù.

Nếu người phạm tội thuộc các trường hợp tại khoản 2, 3, 4 Điều 171 thì chỉ cần xác định người đó đã đủ 14 tuổi là đã phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, với các trường hợp phạm tội thuộc khoản 1 Điều 171 thì cần phải xác định người phạm tội đủ 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

b. Khách thể của tội phạm

– Tội phạm này xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu về tài sản vì mục đích của tội phạm nhắm đến là tài sản của người bị hại. Ngoài ra, hành vi cướp giật tài sản có thể xâm phạm hoặc không xâm phạm đến quan hệ nhân thân nhưng nó không phải là khách thể trực tiếp của tội cướp giật tài sản vì không phải là mục đích chính mà tội phạm nhắm đến. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì người phạm tội nhận thức được hành vi này có thể xâm phạm đến quyền nhân thân. Nhưng không vì vậy mà quan hệ nhân thân dược xem là khách thể của tội phạm này vì nếu xâm phạm đến cả hai quan hệ trên thì không thể phân biệt đâu là tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản.

– Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản mà người phạm tội muốn cướp giật.

luật sư hồ đặng lâu

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu về đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản:

1. Đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản thường là những tài sản nhỏ gọn, dễ di chuyển như: tiền, điện thoại, dây chuyền, đồng hồ, hoa tai, túi xách,…

2. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Theo đó, không phải tài sản nào cũng có thể trở thành đối tượng của tội cướp giật tài sản. Cụ thể:

– Đối với tài sản là “tiền, vật, giấy tờ có giá không ghi danh (không ghi tên người sở hữu)” thì có thể trở thành đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Giấy tờ có giá không ghi danh có thể trở thành đối tượng của tội này vì đây là loại giấy tờ có giá vô danh, không bị sở hữu bởi một người hay tổ chức nào. Nên khi người phạm tội chiếm đoạt được loại giấy tờ này thì có thể xác lập quyền sở hữu một cách dễ dàng. Các loại giấy tờ có giá như: trái phiếu chính phủ, cổ phiếu doanh nghiệp, tín phiếu, kỳ phiếu, hối phí đòi nợ,…

– Đối với tài sản là “quyền tài sản” thì không thể trở thành đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản vì quyền tài sản tồn tại dưới dạng vô hình, không thể nhìn thấy hay sờ được. Nó gắn liền với một chủ thể nhất định và chủ thể này đã xác lập quyền sở hữu với nó theo quy định của pháp luật nên không thể bị dịch chuyển trái pháp luật của hành vi cướp giật tài sản được. Các quyền tài sản như: quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê, quyền trị giá bằng tiền, quyền thực hiện hợp đồng, quyền sở hữu trí tuệ,…

– Đối với tài sản là “giấy tờ có giá ghi danh” thì cũng không thể là đối tượng tác động của tội phạm này vì như đã phân tích trên loại giấy tờ này có ghi danh người sở hữu nó và quyền sở hữu này được xác lập theo quy định pháp luật nên việc chiếm đoạt loại giấy tờ này không có ý nghĩa đối với tội phạm.

– Đối với tài sản là bất động sản và động sản thì đối tượng tác động của tội phạm phải là động sản còn bất động sản như (đất đai, nhà cửa,..) thì không thể trở thành đối tượng tác động của tội phạm này vì có tính chất cố định, không thể dịch chuyển được.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI:

c. Mặt chủ quan của tội phạm

– Lỗi của tội cướp giật tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng mong muốn hậu quả xảy ra và thực hiên một cách công khai, không có ý định che giấu hành vi.

– Mục đích “chiếm đoạt tài sản” của người bị hại là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

d. Mặt khách quan của tội phạm

– Hành vi cướp giật tài sản được thực hiện một cách công khai, nhanh chóng, lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản đẻ thực hiện hành vi phạm tội. Việc thực hiện hành vi cướp giật tài sản một cách công khai (không có ý định che giấu hành vi), nhanh chóng (thực hiện trong một thời gian ngắn), không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hay thủ đoạn uy hiếp người bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát nhằm thoát khỏi sự truy đuổi của chủ tài sản.

– Tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội giật được tài sản ra khỏi sự quản lý của chủ tài sản.

– Hậu quả: tội phạm cướp giật được tài sản.

 

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công:

  • Trường hợp người bị hại hoặc người khác đã lấy lại được tài sản bị cướp giật trước đó thì tội phạm vẫn được xem là hoàn thành.
  • Nếu trong lúc thực hiện hành vi cướp giật tài sản người phạm tội có sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc những hành vi khác mà làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được thì tội phạm chuyển hóa từ tội cướp giật tài sản sang tội cướp tài sản.

ĐỪNG NGẦN NGẠI LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI THEO:

III. Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với tội cướp giật tài sản

1. Hình phạt chính

a. Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Người phạm tội bị phạt tù từ 01 đến 05 năm tù đối với hành vi cướp giật tài sản không có các tình tiết định khung tăng nặng.

b. Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

– Có tổ chức: Là trường hợp có nhiều người (từ 02 người trở lên) tham gia vào việc cướp giật tài sản, có sự câu kết chặt chẽ, có kế hoạch, có sự phân công, có kẻ chủ mưu, cầm đầu,…

– Có tính chất chuyên nghiệp:

+  Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích

+ Người phạm tội xem đây là nghề làm ăn sinh sống và xem tài sản cướp giật được là nguồn sống chính.

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng

– Dùng thủ đoạn nguy hiểm như dùng mô tô, xe máy để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người đang điều khiển mô tô, xe máy trên đường,…

– Hành hung để tẩu thoát: Là trường hợp người phạm tội trong quá trình thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã lấy được hoặc chưa lấy được tài sản thì bị truy đuổi nên đã có những hành động như đánh, đấm, chém, bắn, xô ngã,… người khác để tẩu thoát hoặc hành hung để giành giật lại tài sản.

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%

– Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ:

+ Việc xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên (người dưới 16 tuổi) do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật

+ Phụ nữ mà biết là có thai: Người phạm tội nhận thức được nạn nhân đang mang thai nhưng vẫn thực hiện hành vi cướp giật tài sản

+ Người già yếu là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ đủ 60 tuổi nhưng thường xuyên đau ốm; người không có khả năng tự vệ như: người đang say ngủ, người đang trong tình trạng cơ thể yếu đuối, người bị bệnh tật,…

– Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

– Tái phạm nguy hiểm: Trường hợp người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà chưa được xóa án tích nhưng bây giờ lại tiếp tục phạm tội mới (tội cướp giật tài sản).

c. Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

– Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh: Là trường hợp người phạm tội lợi dụng tình hình thiên tai, dịch bệnh để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác khi họ không có sự đề phòng do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh

d. Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

– Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên

– Làm chết người: Là trường hợp người phạm tội trong quá trình cướp giật tài sản mà làm cho nạn nhân bị chết, giữa hành vi cướp giật tài sản với cái chết của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả với nhau. Ví dụ: A cướp giật sợi dây chuyền của chị B đang đi trên đường làm chị B ngã đập đầu xuống đường tử vong.

Ngoài ra, người chết trong trường hợp này có thể không phải là người bị hại mà có thể là người khác. Ví dụ: A cướp giật sợi dây chuyền của chị B đang đi trên đường làm chị B bị mất tay lái lấn sang làn đường bên kia gây tại nạn làm chết người.

– Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp: Người phạm tội lợi dụng tình hình khẩn cấp khi đất nước đứng trước nguy cơ bị xâm lược, tình hình bạo loạn xã hội, bạo loạn vũ trang, chiến tranh xâm lược mà tranh thủ thực hiện hành vi cướp giật tài sản.

2. Hình phạt bổ sung

 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi cướp giật tài sản.

luật sư hồ đặng lâu

Một số lời khuyên của Luật sư Hồ Đặng Lâu:

1. Về việc xác định độ tuổi của bị hại trong trường hợp “phạm tội cướp giật tài sản đối với người dưới 16 tuổi”. Cụ thể: Phải xác định rõ độ tuổi của nạn nhân dựa theo các giấy tờ cá nhân của người bị hại về ngày, tháng, năm sinh. Nếu không có giấy tờ để làm căn cứ xác minh độ tuổi thì dựa vào Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp các vấn đề nghiệp vụ để xác định độ tuổi của nạn nhân như sau:

– Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày mồng một của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;

– Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mồng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;

– Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào của nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày mồng một tháng giêng hoặc ngày mồng một tháng 7 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;

– Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm, thì lấy ngày mồng một tháng giêng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.

2. Để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân phải căn cứ vào Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 12/6/2014 quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Dù hậu quả của tội phạm ở dạng nào cũng đều phải xác định trên cơ sở tỷ lệ thương tật để làm cơ sở xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

  • Để xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt cần phải căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm phạm tội. Nếu không xác định được giá trị tài sản thì phải trưng cầu giám định.
  • Trong trường hợp người phạm tội có hành vi chống trả để cướp giật tài sản hoặc tẩu thoát mà làm chết người thì ngoài bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản thì còn bị truy cứu về tội giết người.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

IV. Tội cướp giật tài sản có được hưởng án treo?

1. Án treo là gì?

Án treo là biện pháp “miễn chấp hành” hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội “bị phạt tù không quá 03 năm”, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. (Điều 1 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo).

2. Điều kiện hưởng án treo

Để được hưởng án treo đối với “tội cướp giật tài sản” người phạm tội phải đáp ứng các điều kiện sau đây: (Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP)

Thứ nhất, người phạm tội này có thời gian bị xử phạt tù là không quá 03 năm. Điều này đồng nghĩa các trường hợp có thời gian bị xử phạt tù từ 03 năm trở lên sẽ không đủ điều kiện để được xét án treo.

Thứ hai, người phạm tội có nhân thân tốt. Cụ thể:

– Có nhân thân tốt là nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

– Trưòng hợp người phạm tội này đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

Thứ ba, người phạm tội có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hiện hành và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự hiện hành.

Thứ tư, người phạm tội phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Thứ năm, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Theo đó, tùy thuộc vào mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự và mức án mà tòa tuyên thì người phạm tội có thể hoặc không thể hưởng án treo. Cụ thể, đối với các trường hợp phạm tội thuộc khoản 2,3,4 Điều 171 thì người phạm tội không thể được hưởng án treo vì mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại các khoản này là tù chung thân và mức thấp nhất của khung hình phạt không thấp hơn 03 năm (điều kiện hưởng án treo). Ngược lại, các trường hợp phạm tội không có tình tiết tăng định khung tăng nặng thuộc khoản 1 Điều 171 thì người phạm tội có thể được hưởng án treo với điều kiện tòa tuyên án không quá 03 năm tù và phải đáp ứng đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP.

Một số lưu ý của Luật sư Hãng Luật Thành Công về điều kiện được hưởng án treo “tội cướp giật tài sản”

1. Án treo là trường hợp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải là một loại hình phạt.

2. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

3. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

4. Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

V. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự đối với tội cướp giật tài sản

Người phạm tội có trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự cho người bị hại nếu gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng. Cụ thể:

– Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm gồm: (Điều 589 BLDS 2015)

+ Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

+ Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

+ Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

+ Thiệt hại khác do luật quy định.

– Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: (Điều 590 BLDS 2015)

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại khác do luật quy định.

+ Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại các khoản nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

– Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: (Điều 591 BLDS 2015)

+ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 BLDS 2015

+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng

+ Thiệt hại khác do luật quy định

+ Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại các khoản nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

VI. Phân biệt tội cướp giật tài sản với tội cướp tài sản và trộm cắp tài sản

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hàng trong và ngoài nước.               

Với phương châm là “Sự hài lòng của Quý khách hàng chính là tiêu chí để đáng giá chất lượng dịch vụ của chúng tôi”, chúng tôi cam kết cung cấp các dịch vụ có chất lượng vượt trội hơn so với sự mong đợi của Quý khách hàng, với thái độ tận tậm, tận tụy, chuyên nghiệp, coi quyền lợi của Quý khách hàng chính là quyền lợi của Công ty để nỗ lực đạt được kết quả cuối cùng thật sự hoàn hảo và thoả mãn được các yêu cầu của Quý khách hàng.

Uy tín của Hãng Luật Thành Công đã được nhiều Lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp chứng nhận:

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh tụng, đã và đang tham gia nhiều vụ án hình sự với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.

Đặc biệt, đến với chúng tôi Khách hàng sẽ được tư vấn pháp luật trực tiếp bởi các Luật sư hàng đầu của Hãng Luật Thành Công. Để tránh mất nhiều thời gian tìm kiếm nguồn thông tin, lại gặp những kiến thức không chuyên môn, chưa giải đáp được vấn đề đang gặp phải.

Khách hàng vui lòng để lại thông tin liên hệ, Hãng Luật Thành Công sẽ chủ động liên lạc lại với Quý khách trong thời gian sớm nhất.

Hoặc để thuận tiện hơn, Quý khách hàng nên gọi ngay đến số:  1900 633 710 để được nhận tư vấn rõ ràng, chuẩn xác từ các Luật sư đầu ngành. Hàng luật Thành Công sẽ giúp bạn tiết kiệm đối đa thời gian và công sức để tra cứu trên các website luật pháp không chính thống.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

  • Trụ sở chính: Số 114D đường Lê Lợi, Phường 4, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
  • CN Hóc Môn: Số 004A-004B Bùi Công Trừng, Ấp 3, Xã Đông Thạnh, Huyện Hóc Môn, TP. HCM
  • Hotline:  1900 633 710
  • Email:  congtyluatthanhcong@gmail.com
  • Website: hangluatthanhcong.vn

 

5/5

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up