10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tội giết người bị phạt bao nhiêu năm tù? (Luật mới 2020)

Tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội và ngày càng có xu hướng gia tăng.

Vậy, tội giết người bị phạt bao nhiêu năm tù?

Để hiểu rõ được bản chất, mức độ nguy hiểm và quy định của pháp luật đối với loại tội phạm này, kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tham khảo bài tư vấn chi tiết của Luật sư dưới đây.

I. Căn cứ pháp lý về tội giết người

– Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH (Hợp nhất Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018).

– Công văn số 38/ NCPL ngày 06-01-1976 của Toà án nhân dân tối cao và Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1995.

– Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp các vấn đề nghiệp vụ.

– Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

II. Những yếu tố cấu thành tội giết người

1. Tội giết người là gì?

Là hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật, được thực hiện bởi chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ.

2. Các yếu tố cấu thành tội giết người

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội giết người là bất kỳ chủ thể nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Cụ thể:

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Từ đủ 16 tuổi trở lên thì chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Theo đó, tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khi có mức hình phạt cao nhất từ trên 12 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Vì vậy, chủ thể của tội giết người có thể là bất kỳ ai từ đủ 14 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

b. Khách thể của tội phạm

Tội giết người xâm phạm đến tính mạng con người, là một khách thể rất quan trọng. Đối tượng tác động của hành vi giết người là con người đang sống.

c. Mặt khách quan

– Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng trái phép của người khác.

Theo đó, hành vi tước đoạt tính mạng trái phép được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết, chấm dứt sự sống của người khác. Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho người khác có thể được thể hiện qua hành dộng hoặc không hành động. Cụ thể:

        + Hành vi được thực hiện thông qua các hành động để gây cái chết cho người khác như: đâm, chém, bắn, bóp cổ, đá, đánh, bỏ thuốc độc,…

        + Hành vi khách quan của tội giết người cũng có thể là “không hành động”. Không hành động được hiểu là trong trường hợp chủ thể (tội giết người) có trách nhiệm phải hành động để cứu sống hoặc đảm bảo an toàn tính mạng cho người khác nhưng chủ thể này đã không hành động và việc không hành động này là nguyên nhân gây ra cái chết cho người khác.

Ví dụ: A là bác sĩ, giữa A và B có tư thù với nhau nên lúc B bị tai nạn nghiêm trọng cần được cấp cứu chữa trị gấp thì A đã cố ý trì hoãn thời gian cấp cứu cho B với mục đích để B chết. Hậu quả hành động trên của A làm B tử vong.

– Hậu quả của tội phạm là nạn nhân bị tử vong. Đây là dấu hiệu bắt buộc của tội giết người và là dấu hiệu quan trọng để xác định tội danh và giai đoạn thực hiện tội phạm của tội giết người.

– Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng trái phép của người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả cái chết của nạn nhân nếu hành vi mà họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người.

Luật sự tư vấn luật đất đai1

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công

1. Cần phân biệt “tội giết người” được quy định tại Điều 123 BLHS với các tội danh sau đây:

– Trường hợp người mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến đứa bé chết thì phạm tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ tại Điều 124 BLHS.

– Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì phạm tội tại Điều 125 BLHS.

– Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội thì phạm tội tại Điều 126 BLHS.

– Giết người trong khi thi hành công vụ thì phạm tội tại Điều 127 BLHS.

2. Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì tội phạm có thể đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc phạm tội chưa đạt.

3. Hành vi tước đoạt tính mạng của chính mình, hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép

Ví dụ: Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết, thi hành hình phạt tử hình,…) không phải là hành vi khách quan của tội giết người.

d. Mặt chủ quan

– Lỗi của người phạm tội giết người là “lỗi cố ý”, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

        + Đối với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội biết trước được hậu quả chết người có thể xảy ra và mong muốn cho hậu quả xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

          + Đối với lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức trước được hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng để đạt được mục đích của mình nên đã bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

– Động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

Luật sự tư vấn luật dân sự2

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công về yếu tố “lỗi” trong việc xác định tội danh

Trong trường hợp hậu quả chết người đã xảy ra thì yếu tố lỗi không được xét đến trong việc định tội. Tuy nhiên, trong trường hợp hậu quả chết người chưa xảy ra thì sẽ dựa vào yếu tố lỗi để định tội danh.

Cụ thể:

       + Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trưc tiếp thì người phạm tội sẽ chịu trách nhiệm hình sự về “tội giết người chưa đạt”.

      + Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người mà chỉ chịu trách nhiệm hình sự về “tội cố ý gây thương tích” trong trường hợp có thương tích xảy ra.

III. Tội giết người bị phạt bao nhiêu năm tù?

1. Hình phạt chính tội giết người

a. Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

– Giết 02 người trở lên: Người phạm tội cố ý giết người và có ý thức bỏ mặc, mong muốn hậu quả chêt nhiều người xảy ra (từ 02 người trở lên), có thể thực hiện hành vi giết nhiều người một lần hoặc nhiều lần khác nhau và hậu quả của hành vi này phải là có từ 02 chết trở lên mới áp dụng tình tiết này.

– Giết người dưới 16 tuổi: Là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi giết người mà nạn nhân ở đây là người dưới 16 tuổi và bất kể người phạm tội có nhận thức hay không nhận thức được nạn nhân là người dưới 16 tuổi hay không đều phải áp dụng tình tiết này cho việc xác định khung hình phạt.

Luật sự tư vấn luật dân sự1

Lời khuyên của Luật sư Hãng luật Thành Công về việc xác định độ tuổi của bị hại trong trường hợp “giết người dưới 16 tuổi”.

Khi áp dụng tình tiết giết người dưới 16 tuổi cần phải xác định rõ độ tuổi của nạn nhân dựa theo các giấy tờ cá nhân của người bị hại về ngày, tháng, năm sinh.

Nếu không có giấy tờ để làm căn cứ xác minh độ tuổi thì dựa vào Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp các vấn đề nghiệp vụ để xác định độ tuổi của nạn nhân như sau:

  •            Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày mồng một của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
  •           Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mồng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
  •         Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào của nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày mồng một tháng giêng hoặc ngày mồng một tháng 7 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
  •         Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm, thì lấy ngày mồng một tháng giêng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.

– Giết phụ nữ mà biết là có thai: Nạn nhân trong trường hợp này là phụ nữ đang mang thai, không kể mang thai bao nhiêu tháng. Người phạm tội giết người nhận thức được nạn nhân đamg mang thai nhưng vẫn thực hiện hành vi giết người.

– Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân: Là trường hợp giết người mà nạn nhận là người đang thi hành công vụ như: công an đang làm nhiệm vụ, thầy thuốc đang chữa bệnh, thầy giáo đang dạy học, tình nguyện viên đang thực hiện công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,…

– Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình:

           + Giết ông, bà: có thể là ông, bà nội hoặc ngoại của người phạm tội

           + Giết cha, mẹ: có thể là cha, mẹ ruột; cha, mẹ nuôi; cha, mẹ vợ; cha, mẹ chồng của người phạm tội

           + Giết người nuôi dưỡng: là người có công chăm nuôi, dạy dỗ người phạm tội như: cậu, chú, dì, mợ,…

           + Giết thầy cô giáo của mình: là những người đã từng hoặc đang dạy dỗ, giáo dục người phạm tội

– Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Là trường hợp giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó người phạm tội giết người lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù); hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).

Ví dụ: A vừa thực hiện hành vi cướp tiệm vàng và đang trên đường tẩu thoát vô tình gặp B (người có thù hằn với A trong quá khứ) đang say sỉn. Cả hai xảy ra ẩu đã và kết quả A đâm chết B. Trong trường hợp này, hành vi liền trước của hành vi giết người là hành vi phạm tội cướp tài sản.

– Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác:

+ Trường hợp 1: Giết người để thực hiện tội phạm khác, là trường hợp người phạm tội giết người với động cơ phạm tội là nhằm thực hiện một “tội pham khác”.

Tội phạm khác là bất kỳ tội phạm nào được quy định tại BLHS, không phân biệt đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trong, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm khác ở đây không phải là tội giết người.

Ví dụ: Giết người để cướp của

+ Trường hợp 2: Giết người để che giấu tội phạm khác, là trường hợp người phạm tội trước khi giết người đã thực hiện hành vi phạm tội nào đó và để che giấu tội phạm đó nên đã giết người.

Nạn nhân thường là người biết được hành vi phạm tội hoặc là người cùng thực hiện hành vi phạm tội.

Ví dụ: A biết B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên B đã giết A nhằm mục đích che giấu hành vi phạm của mình.

– Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân: Là trường hợp người phạm tội giết người để lấy bất kỳ bộ phận cơ thể nào của nạn nhân.

Tất cả các trường hợp giết người để lấy bộ phận cơ thể vì lý do nào đó đều phạm tội giết người.

Ví dụ: Giết người lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân để thay thế, cấy, ghép cho người khác.

– Thực hiện tội phạm một cách man rợ: Là trường hợp giết người một cách dã man, tàn ác, gây ra cái chết đau đớn cho nạn nhân như: hành hạ nạn nhân cho đến chết; mổ bụng, gây vết thương trên cơ thể nạn nhân khi đang còn sống; hoặc chặt các bộ phận cơ thể (đầu, tay, chân, …) rồi đem vứt ở những nơi khác nhau sau khi nạn nhân chết.

– Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp: Người phạm tội lợi dụng nghề nghiệp của mình để thực hiện hành vi giết người một cách dễ dàng thuận tiện hơn hoặc để che giấu hành vi giết người của mình.

Ví dụ: A là bác sĩ muốn thực hiện hành vi giết B nên đã lợi dụng trong lúc phẫu thuật tiêm cho B thuốc độc thay vì thuốc gây mê.

– Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người: Người phạm tội thực hiện hành vi giết người bằng những công cụ, phương tiện có khả năng làm chết nhiều người như: ném bom, mìn chỗ đông người; bỏ thuốc độc vào bể nước; phóng hỏa đốt nhà;…

– Thuê giết người hoặc giết người thuê:

          + Thuê giết người: là trường hợp người phạm tội (người thuê) không trực tiếp thực hiện hành vi giết người mà thông qua một người khác (người được thuê) bằng cách trả một số tiền hoặc lợi ích vật chất nào đó để thuê người khác (người được thuê) giết người mà mình mong muốn.

            + Giết người thuê: là trường hợp người phạm tội (người được thuê) nhận tiền hoặc lợi ích vật chất từ một người khác (người thuê) để giết người mà người khác này mong muốn giết.

– Có tính chất côn đồ: côn đồ được hiểu là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người. 

– Có tổ chức: Là trường hợp có nhiều người (từ 02 người trở lên) tham gia vào việc giết người, có sự câu kết chặt chẽ, có kế hoạch, có sự phân công, có kẻ chủ mưu, cầm đầu,…

– Tái phạm nguy hiểm: Trường hợp người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà chưa được xóa án tích nhưng bây giờ lại tiếp tục phạm tội mới (tội giết người).

– Vì động cơ đê hèn: Người phạm tội giết người trong trường hợp này mang tính chất xấu xa và hèn hạ.

Ví dụ: Giết vợ/chồng của mình để tự do lấy vợ/chồng khác; giết ân nhân, người có ơn với mình; giết nhân tình mà biết có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; con nợ giết chủ nợ để trốn nợ;…

b. Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Trường hợp phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS hiện hành thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

c. Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Đối với những trường hợp chuẩn bị phạm tội, người nào chuẩn bị phạm tội giết người thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công

1. Trường hợp giết người để thực hiện tội phạm khác, tội phạm khác được thực hiện sau khi giết người có mối liên quan mật thiết với hành vi giết người.

Hành vi giết người là tiền đề, là phương tiện để thực hiện tội phạm sau, nếu không giết người thì không thực hiện được tội phạm sau.

Ví dụ: Trường hợp giết người cướp của thì tội phạm phải thực hiện hành vi giết người trước thì mới có thể dẽ dàng thực hiện hành vi cướp của được.

Bên cạnh đó, về thời gian phạm tội của tội phạm khác được thực hiện sau khi giết người, có thể là liền ngay sau khi vừa giết người hoặc có thể xảy ra sau một thời gian nhất định như hành vi vừa giết người vừa cướp của hoặc giết người trước rồi mới cướp của sau.

Đây cũng là yếu tố quan trọng để phân biệt với tình tiết “Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

2. Trường hợp giết người để che giấu tội phạm khác thì hành vi giết người không phải là tiền đề, phương tiện để thực hiện tội phạm sau mà chỉ đơn giản là giết người với thủ đoạn nhằm che giấu tội phạm trước đó.

3. Đối với tình tiết “Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” thì nạn nhân bị giết phải là người đang trong quá trình thi hành công vụ và công vụ đó phải hợp pháp thì tình tiết này mới được áp dụng.

4. Đối với tình tiết “Giết phụ nữ mà biết có thai” trong trường hợp người phạm tội giết người không có nhận thức, không biết là nạn nhân đang mang thai thì không áp dụng tình tiết này.

Ngược lại, nếu người phạm tội nhầm tưởng rằng người phụ nữ đó có thai tuy nhiên trên thực tế người phụ nữ đó hoàn toàn không có thai thì người phạm tội giết người vẫn bị áp dụng tình tiết này.

IV. Tội giết người có được xin án treo không?

Án treo là biện pháp “miễn chấp hành” hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội “bị phạt tù không quá 03 năm”, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

Theo đó, “tội giết người” là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Trong khi án treo chỉ được áp dụng đối với người phạm tội “bị phạt tù không quá 03 năm” nên người phạm tội giết người không đáp ứng đủ điều kiện được hưởng án treo.

Bên cạnh đó, tội giết người còn là tội phạm nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến tính mạng, thân thể của người khác; ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Xét thấy mức độ nguy hiểm và ảnh hưởng của loại tội phạm này đối với tính mạng con người nói riêng và an ninh, trật tự, an toàn xã hội nói chung, do đó BLHS hiện hành quy định “tội giết người không được hưởng án treo”.

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up