10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tội hiếp dâm theo quy định của Bộ Luật Hình Sự mới nhất

TỘI HIẾP DÂM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỚI NHẤT

Tội hiếp dâm thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là tội phạm cố ý xâm phạm đến quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh dự của con người. Vậy tội hiếp dâm là gì? Hình phạt của tội phạm này được quy định như thế nào? Nay Hãng Luật Thành Công kính gửi đến Quý khách hàng, Quý độc giả bài viết với chủ đề “TỘI HIẾP DÂM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỚI NHẤT”.

Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu các nội dung sau đây:

luật sư hồ đặng lâu

BÀI VIẾT NÀY BAO GỒM NHỮNG MỤC CHÍNH SAU ĐÂY:

I. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH (Hợp nhất Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018)

– Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo

II. Những yếu tố cấu thành tội hiếp dâm

1. Tội hiếp dâm là gì?

Hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

2. Các yếu tố cấu thành tội hiếp dâm

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, cụ thể là nam giới có năng lực trách nhiệm hình sự và có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Trường hợp chủ thể là nữ giới thì chỉ có thể tham gia với vai trò là đồng phạm, giúp sức, xúi giục hoặc tổ chức.

b. Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ và có thể gây ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe của nạn nhân trong một số trường hợp.

Đối tượng tác động của tội phạm là phụ nữ từ đủ 16 tuổi trở lên.

c. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Theo đó, người phạm tội nhận thức rõ hành vi giao cấu của mình là trái ý muốn của người phụ nữ và mong muốn thực hiện hành vi giao cấu bằng những thủ đoạn khác nhau mặc cho nạn nhân có đồng ý hay không.

d. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác khiến họ không thể chống cự lại được và giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn với họ. Cụ thể:

+ Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất nhằm đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như: bóp cổ, bịt miệng, xô ngã, giữ, vật lộn, đánh, đè, ép,… nhằm làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu.

+ Đe dọa dùng vũ lực là uy hiếp tinh thần của nạn nhân khiến họ bị tê liệt ý chí, không dám chống cự thông qua các hành động như dùng dao, súng,… để đe dọa họ. Trong trường hợp này, người phạm tội chưa có bất cứ hành vi dùng vũ lực hay hành động nào tác động lên người nạn nhân mà chỉ uy hiếp, đe dọa nạn nhân mà thôi.

+ Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân như lợi dụng nạn nhân lúc say rượu, ốm đau, bị bất tỉnh, bị tâm thần,…

+ Thủ đoạn khác khiến nạn nhân rơi vào tình trạng không thể chống cự được như cho uống thuốc mê, thuốc kích dục,…

Dấu hiệu giao cấu trái ý muốn với nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu Hãng luật Thành Công về các yếu tố cấu thành tội hiếp dâm:

  1. Nếu người phạm tội dùng vũ lực làm cho nạn nhân bất tỉnh và giao cấu rồi để nạn nhân chết mặc dù không tiếp tục dùng vũ lực sau đó hoặc người phạm tội giết nạn nhân để dễ dàng giao cấu thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm tội giết người.
  2. Dấu hiệu giao cấu trái ý muốn với nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Theo đó, để xác định việc giao cấu có trái ý muốn của nạn nhân hay không cần xem xét các yếu tố như: mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, nhân thân hai bên, hoàn cảnh thực hiện hành vi giao cấu, thủ đoạn thực hiện tội phạm, hậu quả của việc giao cấu,…
  3. Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác không được sự đồng ý của nạn nhân do nạn nhân không thể chống cự lại được. Nếu chỉ mới thực hiện một trong những thủ đoạn nêu trên mà chưa giao cấu hoặc có hành vi quan hệ tình dục khác được thì phạm tội chưa đạt.
  4. Dấu hiệu phân biệt giữa tội hiếp dâm với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là độ tuổi của người bị hại (nạn nhân).

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

III. Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với tội hiếp dâm

1. Hình phạt chính

a. Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

b. Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

– Có tổ chức: Là trường hợp có nhiều người (từ 02 người trở lên) tham gia vào việc hiếp dâm, có sự câu kết chặt chẽ, có kế hoạch, có sự phân công, có kẻ chủ mưu, cầm đầu,…

– Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh. Ví dụ: cha dượng hiếp dâm con gái của vợ, thầy hiếp dâm trò, bác sĩ hiếp dâm bệnh nhân,…

– Nhiều người hiếp một người. Là trường hợp có từ hai người trở lên hiếp một người. Nếu có nhiều người nhưng chỉ có một người thực hiện hành vi hiếp dâm, còn những người kia là đồng phạm giúp sức thì không áp dụng tình tiết này.

– Phạm tội 02 lần trở lên. Là trường hợp phạm tội hiếp dâm với cùng một nạn nhân từ hai lần trở lên.

– Đối với 02 người trở lên. Là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm từ hai người trở lên

– Có tính chất loạn luân. Loạn luân được hiểu là giữa người phạm tội với nạn nhân có cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha

– Làm nạn nhân có thai

– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. Theo đó, tổn thương này phải được gây ra từ hành vi hiếp dâm.

– Tái phạm nguy hiểm. Là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý chưa được xoá án tích hoặc đã tái phạm chưa được xoá án tích mà còn phạm tội hiếp dâm.

c. Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên

– Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

– Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

+ Việc nạn nhân chết phải là hậu quả của hành vi hiếp dâm gây ra. Theo đó, cái chết của nạn nhân nằm ngoài mong muốn của người phạm tội.

+ Trường hợp nạn nhân không có tâm lý vững vàng, bị khủng hoảng tâm lý nặng nề do hành vi hiếp dâm của người phạm tội gây ra sẽ dễ dẫn đến tự sát. Chỉ cần nạn nhân có hành vi tự sát, bất kể có chết hay không, người phạm tội vẫn bị áp dụng tình tiết này.

d. Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

 Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Tuy nhiên, nếu phạm tội đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mà thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 141 BLHS hiện hành thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

2. Hình phạt bổ sung

Người phạm tội hiếp dâm còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

luật sư hồ đặng lâu

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu:

1. Trong trường hợp phạm tội đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì cần xác định rõ hành vi của người phạm tội là lợi dụng quan hệ chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để hiếp dâm nạn nhân. Nếu không liên quan đến một trong các quan hệ nêu trên thì không áp dụng tình tiết này.

2. Trường hợp gây thương tích hoặc tổn hại tinh thần, sức khỏe của nạn nhân không phải được gây ra từ hành vi hiếp dâm mà được gây ra từ hành vi cố ý dùng vũ lực thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe của người khác.

3. Để áp dụng tình tiết biết mình bị nhiễm HIV mà còn hiếp dâm thì cần phải xác định rõ yếu tố “người phạm tội đã biết mình bị nhiễm HIV mà còn hiếp dâm” vì người phạm tội có thể biết hoặc không biết mình bị nhiễm HIV. Theo đó, có hai trường hợp sau:

+ Nếu người phạm tội không biết mình nhiễm HIV mà đã hiếp dâm khiến nạn nhân bị nhiễm HIV thì không áp dụng tình tiết này.

+ Nếu người phạm tội biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm, bất kể nạn nhân có bị nhiễm HIV hay không thì vẫn bị áp dụng tình tiết này.

4. Trường hợp người phạm tội giết nạn nhân vì sợ bị phát hiện hoặc vẫn thực hiện hành vi giao cấu với nạn nhân dù biết nạn nhân sắp chết nhưng vẫn bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

IV. Tội hiếp dâm có được hưởng án treo?

1. Án treo là gì?

Án treo là biện pháp “miễn chấp hành” hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội “bị phạt tù không quá 03 năm”, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. (Điều 1 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 quy định về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo).

2. Điều kiện hưởng án treo

Để được hưởng án treo đối với “tội hiếp dâm” người phạm tội phải đáp ứng các điều kiện sau đây: (Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP)

Thứ nhất, người phạm tội này có thời gian bị xử phạt tù là không quá 03 năm. Điều này đồng nghĩa các trường hợp có thời gian bị xử phạt tù từ 03 năm trở lên sẽ không đủ điều kiện để được xét án treo.

Thứ hai, người phạm tội có nhân thân tốt. Cụ thể:

– Có nhân thân tốt là nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

– Trưòng hợp người phạm tội này đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

Thứ ba, người phạm tội có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hiện hành và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự hiện hành.

Thứ tư, người phạm tội phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Thứ năm, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

=> Như vậy, người phạm tội hiếp dâm có thể được hưởng án treo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên.

 

Một số lưu ý của Luật sư Hãng Luật Thành Công về điều kiện được hưởng án treo “tội hiếp dâm”

  1. Án treo là trường hợp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải là một loại hình phạt.
  2. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  3. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.
  4. Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

V. Phân biệt tội hiếp dâm với tội cưỡng dâm

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hàng trong và ngoài nước.               

Với phương châm là “Sự hài lòng của Quý khách hàng chính là tiêu chí để đáng giá chất lượng dịch vụ của chúng tôi”, chúng tôi cam kết cung cấp các dịch vụ có chất lượng vượt trội hơn so với sự mong đợi của Quý khách hàng, với thái độ tận tậm, tận tụy, chuyên nghiệp, coi quyền lợi của Quý khách hàng chính là quyền lợi của Công ty để nỗ lực đạt được kết quả cuối cùng thật sự hoàn hảo và thoả mãn được các yêu cầu của Quý khách hàng.

Uy tín của Hãng Luật Thành Công đã được nhiều Lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp chứng nhận:

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh tụng, đã và đang tham gia nhiều vụ án hình sự với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.

Đặc biệt, đến với chúng tôi Khách hàng sẽ được tư vấn pháp luật trực tiếp bởi các Luật sư hàng đầu của Hãng Luật Thành Công. Để tránh mất nhiều thời gian tìm kiếm nguồn thông tin, lại gặp những kiến thức không chuyên môn, chưa giải đáp được vấn đề đang gặp phải.

Khách hàng vui lòng để lại thông tin liên hệ, Hãng Luật Thành Công sẽ chủ động liên lạc lại với Quý khách trong thời gian sớm nhất.

Hoặc để thuận tiện hơn, Quý khách hàng nên gọi ngay đến số:  1900 633 710 để được nhận tư vấn rõ ràng, chuẩn xác từ các Luật sư đầu ngành. Hàng luật Thành Công sẽ giúp bạn tiết kiệm đối đa thời gian và công sức để tra cứu trên các website luật pháp không chính thống.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

  • Trụ sở chính: Số 114D đường Lê Lợi, Phường 4, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
  • CN Hóc Môn: Số 004A-004B Bùi Công Trừng, Ấp 3, Xã Đông Thạnh, Huyện Hóc Môn, TP. HCM
  • Hotline:  1900 633 710
  • Email:  congtyluatthanhcong@gmail.com
  • Website: hangluatthanhcong.vn

 

5/5

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up