10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Lên tiếng ngay! 5 năm tù cho tội xâm phạm chỗ ở người khác

Theo quy định tại Điều 22 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật định”.

Như vậy, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở là quyền hiến định của mỗi công dân. Tội xâm phạm chỗ ở người khác khi không được sự đồng ý của họ là hành vi trái pháp luật và có thể bị xử lý hình sự.

Việc khám xét nơi ở của người khác chỉ được tiến hành đúng pháp luật khi tuân thủ theo các căn cứ khám xét nơi ở được quy định tại Điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Mọi hành vi khám xét không tuân thủ quy định đều là hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác trái pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh “Tội xâm phạm chỗ ở người khác” theo Điều 158 Bộ Luật Hình Sự.

Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu bài viết tư vấn chi tiết của Luật sư dưới đây:

1. Cơ sở pháp lý Tội xâm phạm chỗ ở người khác

– Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH (Hợp nhất Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018);

– Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015;

2. Như thế nào là hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác?

Mallet, legal code and scales of justice. Law concept, studio shots

a. Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác

Theo quy định tại Điều 192 BLTTHS năm 2015 về căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử:

1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

2. Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.”

Hoạt động khám xét nơi ở của người khác chỉ đúng pháp luật khi tuân thủ quy định tại Điều 192 (Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử) và các quy định tại Điều 193 (Thẩm quyền ra lệnh khám xét); Điều 195 (Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện) của BLTTHS năm 2015.

Mọi hành vi khám xét không tuân thủ các quy định trên đều là những hành vi khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác.

b. Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ

Là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng các thủ đoạn khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở của họ trái với ý chí của người đó. Ngoại trừ những trường hợp thực hiện các quyết định về cưỡng chế, thu hồi…theo quyết định của các cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, nếu việc thực hiện các quyết định về cưỡng chế, thu hồi…không tuân thủ các quy định của pháp luật cũng có thể bị truy cứu TNHS về tội danh này.

c. Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ

Là hành vi dùng mọi thủ đoạn để chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ. Có thể kể đến các hành vi như:

• Tự ý mang đồ đạc vào chỗ ở của người khác;
• Vứt đồ đạc người khác ra;
• Ngăn cản không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở vào chỗ đang ở…

d. Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác

Đây là hành vi tự ý xâm nhập vào chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý hay cho phép của người đó.

Đây là hành vi mới được bổ sung trong BLHS 2015 quy định là tội phạm thể hiện đúng tinh thần và cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 nhằm bào vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, là quyền dân sự cơ bản của con người, của công dân.

Nếu người phạm tội thực hiện hành vi tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác để thực hiện tội phạm như giết người hoặc trộm cắp tài sản. Trong trường hợp này người phạm tội có thể phải chịu TNHS về tội xâm phạm chỗ ở của người khác và tội giết người hoặc tội trộm cắp tài sản theo nguyên tắc phạm nhiều tội.

3. Các dấu hiệu cấu thành Tội xâm phạm chỗ ở người khác

Để truy cứu trách nhiệm về Tội xâm phạm chỗ ở người khác thì cơ quan có thẩm quyền phải có nghĩa vụ chứng minh người phạm tội có các hành vi để đủ yếu tố cấu thành về tội danh này, ngược lại nếu không chứng minh được có hành vi vi phạm thì không được buộc tội.

Một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm chỗ ở người khác được quy định tại Điều 158 BLHS 2015 nếu như hành vi của họ đáp ứng đủ các dấu hiệu cấu thành của tội phạm này. Bao gồm:

a. Mặt chủ thể Tội xâm phạm chỗ ở người khác

– Chủ thể của tội này là chủ thể thường, tức là người từ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

– Trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị xử phạt theo tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 158 BLHS năm 2015.

b. Mặt khách thể Tội xâm phạm chỗ ở người khác

– Hành vi phạm tội này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của con người, của công dân là quyền dân sự cơ bản của con người, của công dân đã được Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định tại Điều 22.

– Để xâm phạm khách thể này người phạm tội thực hiện hành vi tác động đến đối tượng tác động của tội phạm là chỗ ở của hợp pháp của người khác, chỗ ở này có thể là nơi ở thường xuyên lâu dài hoặc tạm trú, có thể là nơi ở cố định hoặc di động thuộc sở hữu của họ hoặc cũng có thể là do họ thuê, mượn.

c. Mặt chủ quan Tội xâm phạm chỗ ở người khác

– Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

– Động cơ và mục đích phạm tội của người thực hiện hành vi phạm tội này rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

d. Mặt khách quan Tội xâm phạm chỗ ở người khác

Trong cấu thành cơ bản của Tội xâm phạm chỗ ở của người khác, người phạm tội có các hành vi sau đây:

• Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác

Ví dụ:

– Đối với người không có thẩm quyền thì việc tự động vào khám xét chỗ ở của người khác là trái pháp luật.

– Đối với người có thẩm quyền thì hành vi lục soát nơi ở của người khác không đúng quy định của pháp luật như tiến hành lục soát nhưng không có lệnh hoặc trong khi không thuộc trường hợp khẩn cấp.

• Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ

Ví dụ: Chấp hành viên của Cơ quan thi hành án đã áp dụng biện pháp cưỡng chế một người rời khỏi nơi ở của họ mà nội dung đó không có trong bản án hoặc quyết định của Toà án.

• Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ

Ví dụ: Người thuê nhà dùng thủ đoạn gian dối lừa chủ nhà và gia đình họ ra khỏi chỗ ở rồi chiếm chỗ ở, tự ý dọn đồ của chủ nhà ra ngoài để chuyển đồ đạc của mình vào nhà khi chủ nhà đi vắng rồi ở luôn trong nhà.

• Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác

Ví dụ: Tội phạm nhân lúc chủ nhà đi vắng đã dọn đồ đạc của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm vào nơi ở của chủ nhà nhằm mục đích tranh giành một phần diện tích nhà ở.

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công

• Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội xâm phạm chỗ ở của công dân là làm cho người khác bị mất chỗ ở, bị ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sinh hoạt bình thường của công dân và các thành viên trong gia đình họ hoặc gây ra những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại.

• Các thiệt hại này, đều có liên quan đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, nếu những thiệt hại không liên quan đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, mà xâm phạm đến các quyền khác thì tuỳ từng trường hợp mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng.

4. Mức hình phạt đối với Tội xâm phạm chỗ ở người khác

4.1. Khung hình phạt cơ bản Tội xâm phạm chỗ ở người khác

Người phạm tội có đủ 4 dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này như đã phân tích ở trên, thì bị áp dụng mức hình phạt sau: phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

4.2. Khung hình phạt tăng nặng Tội xâm phạm chỗ ở người khác

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài các hình phạt chính nêu trên, người phạm Tội xâm phạm chỗ ở của người khác còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như: bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up