10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tư Vấn Luật Thương Mại

Luật Thương Mại: 08 Điểm Quan Trọng Thương Nhân Không Thể Bỏ Qua

Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Đây được xem là hoạt động thu hút trí lực cũng như nguồn vốn của các nhà đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận.

Nhằm mang đến cái nhìn khái quát về hoạt động thương mại theo quy định pháp luật hiện hành, nay Hãng Luật Thành Công kính gửi đến Quý khách hàng, Quý độc giả bài viết với chủ đề “LUẬT THƯƠNG MẠI, 08 ĐIỂM QUAN TRỌNG THƯƠNG NHÂN KHÔNG THỂ BỎ QUA”.

Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu các nội dung sau đây:

luật sư hồ đặng lâu

BÀI VIẾT NÀY BAO GỒM NHỮNG MỤC CHÍNH SAU ĐÂY:

  • Căn cứ pháp lý

– Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 do Quốc Hội ban hành

– Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 05 tháng 7 năm 2019 hợp nhất Luật Thương mại do Văn phòng Quốc Hội ban hành

– Văn bản hợp nhất 29/VBHN-VPQH ngày 26 tháng 11 năm 2013 hợp nhất Luật Đấu thầu do Văn phòng Quốc Hội ban hành

– Văn bản hợp nhất 47/VBHN-VPQH ngày 10 tháng 12 năm 2018 hợp nhất Luật Quảng cáo do Văn phòng Quốc Hội ban hành

– Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ logistics.

– Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công thương.

I. Mua bán hàng hóa

1. Mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa là gì?

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Luật Thương mại quy định về hoạt động mua bán hàng hóa nhưng không quy định như thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự, cụ thể là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Ngoài ra, hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. Như vậy, tài sản bao gồm cả hàng hóa, hàng hóa có phạm vi hẹp hơn tài sản và hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng hợp đồng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự.

2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có những điểm riêng biệt xuất phát từ bản chất thương mại của hoạt động mua bán hàng hóa. Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Theo đó, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

Thứ hai, về hình thức thì hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Trong một số trường hợp bắt buộc các bên ký kết hợp đồng phải lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu.

Thứ ba, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa. Theo đó, hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. Đối với hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hóa và các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

3. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Căn cứ vào phạm vi của hợp đồng có thể chia làm hai loại sau:

– Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước: Là hợp đồng mua bán hàng hóa mà các bên chủ thể thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Thương mại Việt Nam và các quy định pháp luật có liên quan.

– Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Là hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố quốc tế khi hoạt động mua bán hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia thông qua các hình thức như: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhâp, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

  • Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia làm hai loại sau:

– Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa: Là hợp đồng mà hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở Giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của Sở Giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai.

– Hợp đồng mua bán hàng hóa không qua sở giao dịch hàng hóa (hợp đồng mua bán thông thường, không thông qua các thỏa thuận hay tiêu chuẩn của Sở Giao dịch hàng hóa).

luật sư hồ đặng lâu

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa:

  1. Hàng hóa giao dịch tại Sở Giao dịch hàng hóa phải thuộc danh mục hàng hóa giao dịch tại Sở Giao dịch hàng hóa do Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định.
  2. Thương nhân môi giới mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa chỉ được phép hoạt động tại Sở Giao dịch hàng hóa khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. 
  3. Thương nhân môi giới mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa chỉ được phép thực hiện các hoạt động môi giới mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa và không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

  • Các hành vi bị cấm trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa.

– Nhân viên của Sở Giao dịch hàng hóa không được phép môi giới, mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa.

– Các bên liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa không được thực hiện các hành vi sau đây:

+ Gian lận, lừa dối về khối lượng hàng hóa trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn được giao dịch hoặc có thể được giao dịch và gian lận, lừa dối về giá thực tế của loại hàng hóa trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn;

+ Đưa tin sai lệch về các giao dịch, thị trường hoặc giá hàng hóa mua bán qua Sở Giao dịch hàng hóa;

+ Dùng các biện pháp bất hợp pháp để gây rối loạn thị trường hàng hóa tại Sở Giao dịch hàng hóa;

+ Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

4. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng các hình thức như: lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, trong một số trường hợp bắt buộc các bên phải giao kết với nhau bằng văn bản như: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, triển lãm thương mại, hội chợ,… Ngoài ra, các bên trong hợp đồng có thể thay thế hình thức thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu.

5. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa

Luật Thương mại không quy định cụ thể về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, có thể dựa vào bản chất chung của hợp đồng trong dân sự để tìm hiểu về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo đó, nội dung của hợp đồng bao gồm các điều khoản do các bên thỏa thuận ký kết về quyền và nghĩa vụ cùng một số nội dung sau đây:

– Đối tượng hàng hóa

– Số lượng hàng hóa

– Chất lượng hàng hóa

– Giá cả hàng hóa

– Phương thức thanh toán

– Thời gian, địa điểm, hình thức thanh toán

– Giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại,…

Ngoài ra, các bên không chỉ chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng mà còn phải chịu sự điều chỉnh, ràng buộc của pháp luật Thương mại và các quy định pháp luật có liên quan.

 

II. Quảng cáo thương mại

1. Quảng cáo thương mại là gì?

Luật Quảng cáo định nghĩa “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân”.

Trong khi Luật Thương mại quy định “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”. Đây là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Theo đó, đối tượng của quảng cáo thương mại có thể là sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lời hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu vì mục đích quảng bá, thu lợi nhuận,… Như vậy, có thể thấy hoạt động quảng cáo thương mại chỉ là một loại quảng cáo cụ thể của hoạt động quảng cáo nói chung theo quy định của pháp luật hiện hành.

2. Đặc điểm của quảng cáo thương mại

Thứ nhất, chủ thể của hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân. Thương nhân có thể tự mình hoạt động quảng cáo thương mại để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của mình hoặc có thể thực hiện quảng cáo thương mại cho các thương nhân khác để kiếm lợi nhuận.

Thứ hai, về cách thức xúc tiến thương mại, thương nhân sử dụng các phương tiện quảng cáo thương mại như các phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện giao thông, các loại xuất bản phẩm,… để quảng cáo sản phẩm, hàng hóa đến với khách hàng.

Thứ ba, mục đích của hoạt động quảng cáo thương mại là nhằm giới thiệu, quảng bá về hàng hóa, dịch vụ của thương nhân để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu khách hàng, tăng tính cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận.

3. Chủ thể họat động quảng cáo thương mại

Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân. Theo đó, chỉ có thương nhân mới có quyền quảng cáo thương mại, cụ thể: Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam có quyền quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình nhằm giới thiệu, tìm kiếm cơ hội với khách hàng hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình dưới dạng hợp đồng cung ứng dịch vụ khi có nhu cầu.

4. Đối tượng quảng cáo thương mại

Đối tượng của quảng cáo thương mại là hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực kinh doanh của thương nhân. Đồng thời các hàng hóa, sản phẩm dịch vụ đó không thuộc các trường hợp bị hạn chế hoặc cấm kinh doanh, cấm quảng cáo tại Điều 109 Luật Thương mại.

5. Điều kiện quảng cáo

Tùy thuộc vào từng đối tượng quảng cáo sẽ có những điều kiện đi kèm tương ứng, cụ thể:

– Đối với quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

– Đối với quảng cáo cho các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thì phải có các tài liệu chứng minh về sự hợp chuẩn, hợp quy của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật.

– Đối với quảng cáo tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thì phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản.

– Đối với quảng cáo cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

+ Quảng cáo thuốc được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật về y tế; phải có giấy phép lưu hành tại Việt Nam đang còn hiệu lực và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt;

+ Quảng cáo mỹ phẩm phải có phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm theo quy định của pháp luật về y tế;

+ Quảng cáo hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế phải có giấy chứng nhận đăng ký lưu hành do Bộ Y tế cấp;

+ Quảng cáo sữa và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ không thuộc quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật Quảng cáo phải có giấy chứng nhận tiêu chuẩn, giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm dinh dưỡng sản xuất trong nước; đối với sản phẩm dinh dưỡng nhập khẩu thì phải có giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm của cơ quan có thẩm quyền của nước sản xuất và giấy phép lưu hành;

+ Quảng cáo thực phẩm, phụ gia thực phẩm phải có giấy chứng nhận đăng ký chất lượng vệ sinh an toàn đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm thuộc danh mục phải đăng ký chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc giấy tiếp nhận hồ sơ công bố tiêu chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm thuộc danh mục phải công bố tiêu chuẩn;

+ Quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn hành nghề do ngành y tế cấp theo quy định của pháp luật;

+ Quảng cáo trang thiết bị y tế phải có giấy phép lưu hành đối với thiết bị y tế sản xuất trong nước hoặc giấy phép nhập khẩu đối với thiết bị y tế nhập khẩu;

+ Quảng cáo thuốc bảo vệ thực vật, nguyên liệu thuốc bảo vệ thực vật, vật tư bảo vệ thực vật phải có giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật. Quảng cáo sinh vật có ích dùng trong bảo vệ thực vật phải có giấy phép kiểm dịch thực vật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp;

+ Quảng cáo thuốc thú y, vật tư thú y phải có giấy phép lưu hành sản phẩm và bản tóm tắt đặc tính của sản phẩm;

+ Quảng cáo phân bón, chế phẩm sinh học phục vụ trồng trọt, thức ăn chăn nuôi, chế phẩm sinh học phục vụ chăn nuôi phải có giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm hoặc văn bản tự công bố chất lượng sản phẩm.

Như vậy, để có thể hoạt động quảng cáo thương mại thì thương nhân phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên tùy thuộc theo hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ mà mình quảng cáo.

6. Phương tiện quảng cáo thương mại

Phương tiện quảng cáo thương mại là công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại, bao gồm: các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử…); các phương tiện truyền tin (đĩa CD, DVD,…); các loại xuất bản phẩm (sách, báo,…); các loại bảng, biển, băng, pa-nô, áp-phích, vật thể cố định, các phương tiện giao thông hoặc các vật thể di động khác; các phương tiện quảng cáo thương mại khác (hội chợ, triễn lãm, hội nghị,…).

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công:

1. Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại cho mình mà phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo hàng hóa, dịch vụ của mình.

2. Việc sử dụng phương tiện quảng cáo thương mại phải tuân thủ quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và bảo đảm các yêu cầu sau đây:

– Tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản, thông tin, chương trình hoạt động văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm;

– Tuân thủ quy định về địa điểm quảng cáo, không gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan, môi trường, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội;

– Đúng mức độ, thời lượng, thời điểm quy định đối với từng loại phương tiện thông tin đại chúng.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

7. Các quảng cáo thương mại bị cấm

Khi tiến hành hoạt động quảng cáo thương mại, các thương nhân cần phải nắm rõ về các trường hợp quảng cáo thương mại bị cấm để tránh những rủi ro pháp lý không đáng có. Theo đó, các quảng cáo thương mại bị cấm bao gồm:

– Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

– Quảng cáo có sử dụng sản phẩm quảng cáo, phương tiện quảng cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và trái với quy định của pháp luật.

– Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh hoặc cấm quảng cáo.

– Quảng cáo thuốc lá, rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên và các sản phẩm, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảng cáo.

– Lợi dụng quảng cáo thương mại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.

– Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác.

– Quảng cáo sai sự thật về một trong các nội dung số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa, chủng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hóa, dịch vụ.

– Quảng cáo cho hoạt động kinh doanh của mình bằng cách sử dụng sản phẩm quảng cáo vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; sử dụng hình ảnh của tổ chức, cá nhân khác để quảng cáo khi chưa được tổ chức, cá nhân đó đồng ý.

– Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật.

III. Các hoạt động trung gian thương mại

Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.

1. Đại diện cho thương nhân

– Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện.

– Chủ thể gồm: bên giao đại diện và bên đại diện. Cả hai chủ thể này bắt buộc đều phải là thương nhân. Ngoài ra, trong quan hệ này bên đại diện phải thực hiện giao dịch với người thứ ba trên danh nghĩa của bên giao đại diện và phải thực hiện theo chỉ dẫn của bên giao đại diện.

– Phạm vi đại diện: Các bên có thể thỏa thuận với nhau về phạm vi đại diện, cụ thể: việc đại diện có thể được thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện.

– Hình thức pháp lý: Đại diện được tiến hành thông qua hợp đồng đại diện cho thương nhân. Hợp đồng này phải được thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương như: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu.

2. Môi giới thương mại

– Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.

– Chủ thể gồm: Bên môi giới và bên được môi giới. Trong đó, bên môi giới bắt buộc phải là thương nhân và phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề môi giới thương mại. Đối với bên được môi giới không bắt buộc phải là thương nhân, có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân.

– Phạm vi môi giới thương mại được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau nên phạm vi môi giới cũng khá rộng như: môi giới mua bán hàng hóa, mua bán bất động sản, môi giới bảo hiểm, môi giới chúng khoán,… Tuy nhiên, các loại hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi môi giới phải được pháp luật cho phép.

– Hình thức pháp lý: Hoạt động môi giới thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng môi giới thương mại.

3. Ủy thác mua bán hàng hóa

– Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác.

– Chủ thể gồm: Bên ủy thác và bên nhận ủy thác. Trong đó, bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân, giao cho bên nhận ủy thác thực hiện mua bán hàng hóa theo yêu cầu của mình và phải trả thù lao ủy thác.

Bên nhận ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộc phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác và thực hiện mua bán hàng hóa theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác.

– Phạm vi ủy thác: Bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa trong phạm vi ủy thác của bên ủy thác. Bên cạnh đó, bên nhận ủy thác không được ủy thác lại cho bên thứ ba thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa đã ký, trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của bên ủy thác.

– Hình thức pháp lý: Được thực hiện dựa trên hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng này bắt buộc phải được lập bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu).

4. Đại lý thương mại

– Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.

– Chủ thể gồm: bên giao đại lý và bên đại lý, cả hai bên đều phải là thương nhân. Trong quan hệ này bên đại lý sẽ nhân danh chính mình để giao dịch với khách hàng. Cụ thể:

+ Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân ủy quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ.

+ Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận ủy quyền cung ứng dịch vụ.

– Phạm vi được căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên, theo đó bên đại lý sẽ thực hiện bán hàng cho bên giao đại lý hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ giao đại lý cho khách hàng.

– Hình thức pháp lý: Hình thức đại lý thương mại được thực hiện dựa trên hợp đồng đại lý thương mại và hợp đồng này phải được lập bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu).

IV. Gia công thương mại

1. Gia công thương mại, hợp đồng gia công thương mại là gì?

– Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao.

– Hợp đồng gia công trong thương mại là sự thỏa thuận giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn  trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao.

2. Đặc điểm của hợp đồng gia công thương mại

Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ hợp đồng gia công gồm bên đặt gia công và bên nhận gia công. Trong đó, bên nhận gia công bắt buộc phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với sản phẩm gia công. Bên đặt gia công có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân.

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng gia công thương mại là tất cả các loại hàng hóa, trừ hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh. Trường hợp gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài để tiêu thụ ở nước ngoài thì hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu có thể được gia công nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Thứ ba, về hình thức hợp đồng gia công trong thương mại phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu).

3. Phân biệt hợp đồng gia công trong thương mại với hợp đồng gia công trong dân sự

V. Đấu giá hàng hóa

1. Đấu giá hàng hóa là gì?

 Đấu giá hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hóa công khai để chọn người mua trả giá cao nhất.

2. Đặc điểm của đấu giá hàng hóa

Thứ nhất, đấu giá hàng hóa là hoạt động có thể diễn ra qua trung gian hoặc không. Cụ thể, người bán hàng có thể tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá tổ chức hoạt động đấu giá. Việc tổ chức đấu giá hàng hóa mang tính cạnh tranh, công khai và lành mạnh. Người nào đưa ra mức giá cao nhất mà không có ai trả giá cao hơn thì sẽ là người có quyền mua hàng hóa đó.

Thứ hai, đối tượng của bán đấu giá có thể là những hàng hóa thương mại thông thường, hầu hết là những hàng hóa có giá trị sử dụng cao mới áp dụng hình thức bán đấu giá. Giá trị thực của những loại hàng hóa bán đấu giá thường khó xác định. Theo đó, người bán đưa ra một mức giá khởi điểm làm cơ sở cho việc đấu giá và giá thực tế của hàng hóa đó sẽ là giá cuối cùng mà người thắng đấu giá có quyền mua.

Thứ ba, mục đích của bán đấu giá hàng hóa đối với người bán là bán được hàng hóa với giá cao nhất, với người mua là mua được hàng hóa với giá thấp nhất; còn với thương nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá hàng hóa là lợi nhuận từ việc cung ứng dịch vụ đấu giá hàng hóa.

3. Phương thức đấu giá hàng hóa

Đấu giá hàng hóa được thực hiện theo một trong hai phương thức cơ bản sau:

Một, phương thức trả giá lên là phương thức bán đấu giá, theo đó người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng. Đây là phương thức được sử dụng phổ biến vì đảm bảo được tính cạnh tranh công bằng giữa những người tham gia đấu giá khi dựa vào mức giá khởi điểm mà người tham gia đấu giá sẽ đưa ra những mức giá tăng dần đều khác nhau, người nào đưa mức giá cao nhất sẽ là người có quyền mua hàng. Cụ thể, người điều hành đấu giá thông báo công khai về giá đã trả của những người tham gia đấu giá hàng hoá bằng cách nhắc lại ba lần một cách rõ ràng, chính xác bằng lời nói giá đã trả cao nhất, mỗi lần cách nhau ba mươi giây. Người điều hành đấu giá chỉ được công bố người mua được hàng hoá đấu giá nếu sau ba lần nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào trả giá cao hơn.

  • Phương thức này có những ưu điểm và nhược điểm sau:

+ Ưu điểm: Đây là hình thức đấu giá phổ biến vì đảm bảo được tính cạnh tranh và lợi ích của các bên, cả bên mua lẫn bên bán đều có lợi. Bên bán bán được hàng hóa với mức giá mong muốn hoặc ngoài cả sự mong đợi bởi bên mua có thể trả một mức giá khá cao vượt cả mức giá khởi điểm, giá mong muốn của bên bán. Bên mua lại có được món hàng ưng thuận vừa ý thông qua hoạt động đấu giá này. Phương thức này còn tạo không khí sôi động bởi sự trả giá liên tục và sự áp giá xiết xao từ những người tham gia đấu giá. Ngoài ra, tổ chức đấu giá hàng hóa theo phương thức đặt giá lên còn giúp tiết kiệm thời gian khi thời gian tổ chức thường ngắn vì giá được công khai rõ ràng. Do đó, chỉ cần tìm được người trả giá cao nhất chính là người thắng cuộc.

+ Nhược điểm: Chính vì giá được công khai nên những người tham gia đấu giá sẽ dễ dàng biết được giá đấu thủ của mình đưa ra như thế nào. Từ đó, họ sẽ cân nhắc về mức giá cạnh tranh cũng như thời gian làm cho cuộc đấu giá có thể kéo dài mà mức giá lại không được như mong đợi so với mức giá khởi điểm.

Hai, phương thức đặt giá xuống là phương thức bán đấu giá, theo đó người đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng. Đây là phương thức đấu giá thường được áp dụng với những loại hàng hóa giống nhau với số lượng lớn hoặc hàng hóa có tính chất dễ hư hỏng. Tại phiên đấu giá hàng hóa được chào bán với một mức giá khá cao, người mua có thể không hài lòng với mức giá này và giá được hạ từ từ cho đến khi có người mua đồng ý với mức giá này. Ngoài ra, cũng có trường hợp người mua chấp nhận mua hàng hóa với mức giá khởi điểm được đưa ra ngay từ ban đầu mà không cần đợi người điều hành đấu giá hạ giá xuống.

  • Phương thức này có ưu điểm và nhược điểm sau:

+ Ưu điểm: Người có hàng hóa được tổ chức theo phương thức đặt giá xuống thường thu được nhiều tiền hơn so với phương thức trả giá lên vì người tham gia đấu giá không biết giá trị thực của hàng hóa và sẽ hành động thật nhanh vì không biết khi nào thì cuộc đấu giá kết thúc. Vì vậy, dù giá đang giảm mạnh thay vì tăng giá, người tham gia trả giá sẽ kết thúc việc trả giá với giá thậm chí cao hơn giá trị thực của hàng hóa đó.

+ Nhược điểm: do tính chất đặc biệt của phương thức đặt giá xuống là người điều hành phiên đấu giá phải là người có kinh nghiệm, chuyên nghiệp nên khó tổ chức rộng rãi và phổ biến như phương thức trả giá lên. Đồng thời, hàng hóa mang ra đấu giá khó xác định giá trị thực nên số lượng người tham gia cuộc đấu giá thường hạn chế.

4. Chủ thể của đấu giá hàng hóa

Chủ thể của họat động đấu giá hàng hóa theo quy định pháp luật Thương mại bao gồm 04 chủ thể sau:

– Người tổ chức đấu giá bắt buộc phải là thương nhân và có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá hoặc là người bán hàng của mình trong trường hợp người bán hàng tự tổ chức đấu giá.

– Người bán hàng là chủ sở hữu hàng hóa, người được chủ sở hữu hàng hóa ủy quyền bán hoặc người có quyền bán hàng hóa của người khác theo quy định của pháp luật.

– Người tham gia đấu giá hàng hóa là tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia cuộc đấu giá.

– Người điều hành đấu giá là người tổ chức đấu giá hoặc người được người tổ chức đấu giá ủy quyền điều hành bán đấu giá.

5. Phân biệt dấu giá hàng hóa với đấu thầu

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành  Công về Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa

  1. Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, fax, telex,…
  2. Trường hợp hàng hoá được đấu giá là đối tượng cầm cố, thế chấp thì hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá phải được sự đồng ý của bên nhận cầm cố, thế chấp và bên bán phải thông báo cho các bên tham gia đấu giá về hàng hóa đang bị cầm cố, thế chấp.
  3. Trường hợp trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thoả thuận về việc bán đấu giá mà người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc từ chối giao kết hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá thì hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá được giao kết giữa người nhận cầm cố, thế chấp với người tổ chức đấu giá.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

VI. Dịch vụ logistic

1. Dịch vụ logistic là gì?

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

2. Chủ thể kinh doanh dịch vụ logistic

Chủ thể kinh doanh dịch vụ logistic phải là thương nhân, theo đó thương nhân này phải là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic theo quy định của pháp luật.

3. Phân loại dịch vụ logistic

Dịch vụ logistics được phân loại theo quy định của Luật Thương mại bao gồm các loại dịch vụ như sau:

– Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay.

– Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.

– Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải.

– Dịch vụ chuyển phát.

– Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa.

– Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan).

– Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải.

– Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng.

– Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển.

– Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa.

– Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt.

– Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ.

– Dịch vụ vận tải hàng không.

– Dịch vụ vận tải đa phương thức.

– Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.

– Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.

– Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại.

4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic

Thứ nhất, thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó.

Thứ hai, thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể thì còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

Ngoài ra, để kinh doanh dịch vụ logistic thương nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện chung nêu trên cũng như các điều kiện riêng của từng loại dịch vụ cụ thể. Ví dụ:

5. Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics:

Ngoài việc đáp ứng các điều kiện chung của kinh doanh dịch vụ logistic quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 4 NĐ 163/2017/NĐ-CP, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới phải đáp ứng các điều kiện cụ thể sau:

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa):

+ Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%. Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.

+ Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

– Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không.

– Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật

+ Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.

+ Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.

+ Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.

– Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, nhà đầu tư được lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó.

6. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

– Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic trong trường hợp nếu là bên vi phạm hợp đồng có trách nhiệm chứng minh để được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

+ Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận;

+ Xảy ra sự kiện bất khả kháng;

+ Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

+ Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

– Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm nêu trên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hóa phát sinh trong các trường hợp sau đây:

+ Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền;

+ Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền;

+ Tổn thất là do khuyết tật của hàng hóa;

+ Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải;

+ Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận;

+ Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.

– Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.

VII. Nhượng quyền thương mại

1. Nhượng quyền thương mại là gì?

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

– Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

– Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.

2. Chủ thể của nhượng quyền thương mại

Chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại gồm:

– Bên nhượng quyền là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả Bên nhượng quyền thứ cấp trong mối quan hệ với Bên nhận quyền thứ cấp.

– Bên nhận quyền là thương nhân được nhận quyền thương mại, bao gồm cả Bên nhận quyền thứ cấp trong mối quan hệ với Bên nhượng quyền thứ cấp.

3. Hình thức nhượng quyền thương mại

  • Theo phạm vi lãnh thổ gồm:

– Nhượng quyền thương mại trong nước: Là hình thức các nhà đầu tư trong nước nhượng quyền cho nhau. Ví dụ: Kinh Đô, cà phê Trung Nguyên,…

– Nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam: Đây là hình thức các nhà đầu tư nước ngoài ký kết hợp đồng nhượng quyền lại cho các đối tác tại Việt Nam. Ví dụ: McDonald’s, KFC,…

– Nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài: Là hình thức các nhà dầu tư Việt Nam mang thương hiệu của mình quảng bá sang nước ngoài bằng hình thức nhượng quyền thương mại. Ví dụ: cà phê Trung Nguyên, Phở 24,…

  • Theo tiêu chí hoạt động kinh doanh

– Nhượng quyền phân phối sản phẩm: Là hình thức bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ của mình trong phạm vi và thời gian nhất định, được phép sư dụng nhãn hiệu, logo,… Ví dụ: Coca-Cola, Pepsi,…

– Nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh: Là hình thức bên chuyển nhượng không chỉ cho phép bên nhận quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ của mình mà còn chuyển giao công thức kinh doanh, dây chuyền công nghệ kỹ thuật, điều hành quản lý cho bên nhận quyền.

4. Điều kiện nhượng quyền thương mại

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 08/2018/NĐ-CP sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công thương chỉ quy định về điều kiện đối với bên nhượng quyền và bãi bỏ điều kiện đối với bên nhận quyền. Cụ thể, đối với bên nhượng quyền thì thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm.

5. Nhượng quyền lại cho bên thứ ba

Trong trường hợp chuyển nhượng lại cho bên thứ ba (gọi là bên nhận lại quyền) thì bên nhận quyền chỉ được nhượng quyền lại nếu được sự chấp thuận của bên nhượng quyền. Theo đó, bên nhận lại quyền có các quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền quy định tại Điều 288 và Điều 289 của Luật Thương mại.

6. Phân biệt nhượng quyền thương mại với đại lý thương mại

VIII. Những điểm lưu ý khi giải quyết tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại. Tranh chấp thương mại thực chất là tranh chấp hợp đồng. Theo đó, khi giải quyết tranh chấp thương mại các bên cần lưu ý những vấn đề sau đây:

1. Hình thức giải quyết tranh chấp

Hiện nay, theo quy định pháp luật có 4 hình thức giải quyết tranh chấp trong thương mại như sau:

– Thương lượng giữa các bên là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào.

– Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.

– Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án

+ Giải quyết tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tòa án thực hiện theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ.

+ Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết thông qua hoạt động của Trọng tài viên với kết quả cuối cùng là phán quyết trọng tài buộc các bên tôn trọng và thực hiện. Hình thức này chỉ được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận trọng tài trước đó.

Theo đó, các bên căn cứ vào tình hình thực tế của tranh chấp để lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp; tránh trường hợp lựa chọn những hình thức giải quyết tranh chấp không thích hợp gây lãng phí thời gian, chi phí nhưng lại không đạt được kết quả.

2. Thời hạn khiếu nại

Trừ trường hợp thời hạn khiếu nại của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 237 LTM, thì thời hạn khiếu nại do các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thỏa thuận thì thời hạn khiếu nại được quy định như sau:

– Đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa là ba tháng kể từ ngày giao hàng.

– Đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa là sáu tháng kể từ ngày giao hàng. Trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành.

– Đối với khiếu nại về các vi phạm khác là chín tháng kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành.

3. Thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Theo đó, không phải tranh chấp nào cũng có thời hiệu khởi kiện mà tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi một bên hoặc các bên có yêu cầu với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.

Như vậy, để giải quyết các tranh chấp trong thương mại tại Tòa án thì các bên trong hợp đồng phải gửi đơn khởi kiện đến Tòa án trong thời hiệu nhất định. Theo đó, thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 LTM. Tóm lại, các bên phải lưu ý về thời hiệu khởi kiện để nộp đơn khởi kiện giải quyết tranh chấp trong thời gian quy định nêu trên; tránh trường hợp hết thời hiệu khởi kiện mới nộp đơn.

Tư vấn luật Thương Mại

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hàng trong và ngoài nước.               

Với phương châm là “Sự hài lòng của Quý khách hàng chính là tiêu chí để đáng giá chất lượng dịch vụ của chúng tôi”, chúng tôi cam kết cung cấp các dịch vụ có chất lượng vượt trội hơn so với sự mong đợi của Quý khách hàng, với thái độ tận tậm, tận tụy, chuyên nghiệp, coi quyền lợi của Quý khách hàng chính là quyền lợi của Công ty để nỗ lực đạt được kết quả cuối cùng thật sự hoàn hảo và thoả mãn được các yêu cầu của Quý khách hàng.

Uy tín của Hãng Luật Thành Công đã được nhiều Lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp chứng nhận:

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Đặc biệt, đến với chúng tôi Khách hàng sẽ được tư vấn pháp luật trực tiếp bởi các Luật sư hàng đầu của Hãng Luật Thành Công. Để tránh mất nhiều thời gian tìm kiếm nguồn thông tin, lại gặp những kiến thức không chuyên môn, chưa giải đáp được vấn đề đang gặp phải.

Khách hàng vui lòng để lại thông tin liên hệ, Hãng Luật Thành Công sẽ chủ động liên lạc lại với Quý khách trong thời gian sớm nhất.

Hoặc để thuận tiện hơn, Quý khách hàng nên gọi ngay đến số:  1900 633 710 để được nhận tư vấn rõ ràng, chuẩn xác từ các Luật sư đầu ngành. Hàng luật Thành Công sẽ giúp bạn tiết kiệm đối đa thời gian và công sức để tra cứu trên các website luật pháp không chính thống.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

  • Trụ sở chính: Số 114D đường Lê Lợi, Phường 4, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
  • CN Hóc Môn: Số 004A-004B Bùi Công Trừng, Ấp 3, Xã Đông Thạnh, Huyện Hóc Môn, TP. HCM
  • Hotline:  1900 633 710
  • Email:  congtyluatthanhcong@gmail.com
  • Website: hangluatthanhcong.vn

 

5/5

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up