10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tư Vấn Xác Định Tội Danh

Các yếu tố cấu thành tội phạm và nguyên tắc xác định tội danh trong vụ án hình sự

Định tội danh là một trong những biện pháp đưa Bộ luật hình sự (BLHS) vào đời sống xã hội, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, qua đó góp phần thực hiện đường lối chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.

Yêu cầu của công việc xét xử án hình sự là phải xét xử đúng người đúng tội, và việc xác định đúng người phạm tội, đúng tội phạm đã phạm lại là trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự.

Ở bài viết dưới đây, Luật sư Hồ Đặng Lâu sẽ cùng các bạn phân tích những yếu tố cấu thành tội phạm cũng như nguyên tắc xác định tội danh theo quy định của pháp luật.

 

Luật sư Hồ Đặng Lâu

BÀI VIẾT NÀY BAO GỒM NHỮNG MỤC CHÍNH SAU ĐÂY:

I. Khái niệm tội phạm, tội danh

a/ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Như vậy, hành vi nguy hiểm cho xã hội được xác định là tội phạm khi hội đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà Bộ luật Hình sự có trách nhiệm bảo vệ.

Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 8 BLHS 2015, những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Ví dụ:

– Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015);

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015);

– Hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm (Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015);

– Hành vi trong tình thế cấp thiết vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa tới lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa (Điều 23 Bộ luật Hình sự 2015);

b/ Tội danh: là một danh từ dùng để chỉ hành vi phạm pháp đã được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS).

II. Dấu hiệu để nhận biết một người có phạm tội hay không? (Các yếu tố cấu thành tội phạm)

Tội phạm cấu thành khi có đủ đủ bốn yếu tố sau: chủ thể của tội phạm; khách thể của tội phạm; mặt chủ quan; mặt khách quan. Thiếu một trong bốn yếu tố này, thì không cấu thành tội phạm.

1. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự.

– Vậy, năng lực trách nhiệm hình sự là gì?

Theo quy định của Bộ Luật Hình sự, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Do đó, người thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội không thuộc các trường hợp nêu trên thì phải chịu trách nhiệm hình sự (hay nói cách khác người có năng lực trách nhiệm hình sự phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khi phạm tội).

– Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định như thế nào?

+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác;

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự 2015.

2. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam những quan hệ đó là: quan hệ về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. . . những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

3. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, mục đích, và động cơ phạm tội. Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều phải được thực hiện bởi hành vi có lỗi.

Theo quy định của pháp luật hình sự, có hai loại lỗi: lỗi cố ý và lỗi vô ý phạm tội.

– Cố ý phạm tội được quy định tại Điều 10 BLHS 2015 là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

+Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

– Vô ý phạm tội được quy định tại Điều 11 BLHS 2015 là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

+ Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

+ Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

4. Mặt khách quan của tội phạm

Là các hành vi của chủ thể, biểu hiện ra bên ngoài trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Các hành vi này, có thể là bằng hành động nhưng cũng có thể là bằng không hành động.

Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác nhau như: phương tiện, công cụ, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, thực hiện tội phạm.

luật sư hồ đặng lâu

Lời khuyên của Luật sư Hồ Đặng Lâu về các dấu hiệu cấu thành tội phạm

1. Một tội phạm được cấu thành bởi các yếu tố sau. Và chỉ khi nào có đầy đủ các dấu hiệu bắt buột này thì hành vi vi phạm pháp luật mới được coi là hành vi phạm tội. Đó là:

  • Trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
  • Không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
  • Xâm phạm đến quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ
  • Lỗi (lỗi cố ý và lỗi vô ý)
  • Mục đích, động cơ phạm tội
  • Hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả…

2. Một số văn bản pháp luật được dẫn chiếu trong bài viết có thể hết hiệu lực tại thời điểm Quý khách hàng tra cứu. Do đó, để tối ưu nhất Quý khách hàng vui lòng liên hệ đến Hãng Luật Thành Công để được đội ngũ Luật sư tư vấn pháp luật miễn phí và chính xác nhất.

ĐỪNG NGẦN NGẠI GỌI CHO CHÚNG TÔI THEO:

III. Các bước xác định tội danh

Quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện ở 3 giai đoạn: Định tội danh, định khung hình phạt, và quyết định hình phạt.

Trong đó, định tội danh là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của CTTP của tội nào trong số các tội phạm đã được quy định trong BLHS. Đây là bước quan trọng nhất vì được tiến hành thực hiện ở tất cả các giai đoạn của cả quá trình tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn thi hành án.

Bước 1: Xác định tội phạm

Thiết lập, xem xét, đánh giá đúng các tình tiết của vụ án đã xảy ra trên thực tế khách quan.

Ở bước này, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, vô tư, không định kiến, không suy diễn. Phải dựa vào các chứng cứ đã thu thập được và đánh giá theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

Ngoài ra, phải loại trừ các trường hợp mà BLHS quy định không phải là tội phạm và tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 BLHS.

Bước 2: Đối chiếu các hành vi bị truy tố với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội danh bị truy tố

Để xác định đúng tội danh nhằm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào cấu thành cơ bản của điều luật để xác định tội danh, vì mỗi cấu thành cơ bản của tội phạm thể hiện một đặc điểm riêng của tội phạm. Căn cứ vào đặc điểm riêng đó mà chúng ta xác định được tội danh của từng hành vi phạm tội, tránh được sự nhầm lẫn giữa tội phạm này và tội phạm khác.

Ví dụ: Cấu thành cơ bản của tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 BLHS: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” thì đặc điểm riêng của tội này là “người nào” có hành vi tác động vào cơ thể của “người khác” với mục đích gây thương tích cho người đó như đánh, chém, đâm, tông, bắn… và phải có tỷ lệ tổn thương cơ thể đủ định lượng thì mới cấu thành tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS.

Nhưng nếu “người nào” có hành vi tác động vào cơ thể người khác với mục đích tước đoạt sinh mạng của người đó như đánh, chém, đâm, tông, bắn… và có tỷ lệ tổn thương cơ thể hoặc không có tỷ lệ tổn thương cơ thể thì vẫn không cấu thành tội phạm theo Điều 134 BLHS mà cấu thành tội phạm giết người theo Điều 123 BLHS: “Người nào giết người… thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:…”, vì ý chí của chủ thể phạm tội có hành vi tác động vào người khác với mục đích nhằm tước đoạt mạng sống chứ không phải ý chí của chủ thể phạm tội tác động vào người khác nhằm gây thương tích. Trong trường hợp này tổn thương cơ thể hay không tổn thương cơ thể là ngoài ý chí chủ quan của chủ thể phạm tội.

Bước 3: Ra văn bản áp dụng pháp luật: chính là bản án và các quyết định có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục để xác định tội danh cần áp dụng đối với trường hợp phạm tội của người đó.

IV. Lời khuyên của Hãng Luật Thành Công về cách phân biệt một số tội danh điển hình

Có nhiều trường hợp mà người có hành vi phạm pháp luật bị truy tố là giống nhau nhưng Tòa án xác định tội danh khác nhau. Nguyên nhân vì căn cứ vào động cơ, mục đích của tội phạm khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đó là khác nhau.

Ví dụ:

a/ Tội trộm cắp tài sản và Tội cướp tài sản

A lén lút đột nhập vào nhà B lấy 10 triệu đồng bỏ vào túi, đang lúc đi trở ra thì bị B phát hiện và tung hô, sợ bị bắt giữ nên A dùng cây đánh B bị thương tích rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Như vậy, ban đầu hành vi của A có đặc điểm riêng là “lén lút chiếm đoạt 10 triệu đồng” nên hành vi của A phạm tội trộm cắp tài sản  theo Điều 173 BLHS nhưng sau đó hành vi của A đã có sự chuyển hóa từ đặc điểm riêng là “lén lút” sang đặc điểm riêng là “dùng vũ lực làm cho B lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” và nhanh chóng tẩu thoát, nên hành vi của A đã chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản  theo Điều 173 BLHS thành tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS.

b/ Tội giết người và Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

  • Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi của một người không tự kìm chế được mình trước hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với chính mình hoặc đối với người thân thích của mình nên đã giết chết nạn nhân.

– Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội phải do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó.

– Nếu người phạm tội lại không giết người thực hiện hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với mình hoặc đối với người thân thích của mình, mà giết vợ, con hoặc người thân thiết của người này thì họ không phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS năm 2015) mà phạm tội giết người (Điều 123 BLHS năm 2015).

  • Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thực chất là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt của Tội giết người.

Nếu chỉ là những va chạm, xung đột thông thường trong đời sống gây nên tình trạng bị kích động mà họ đã có hành vi giết người thì không phạm “Tội giết người trong trạng thái bị kích động mạnh” (Điều 125) mà phạm “Tội giết người” (Điều 123) với tình tiết giảm nhẹ “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

c/ Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

A và B đều có hành vi để chất ma túy trong người (lượng chất ma túy đủ để truy tố), cùng tham gia giao thông, cùng bắt giữ, sau đó A bị truy tố về tội “mua bán trái phép chất ma túy ”, còn B bị truy tố về tội “vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Trong trường họp này, thì căn cứ vào đâu xác định tội danh khác nhau?

Tuy A và B cùng có hành vi để chất ma túy trong người, cùng tham gia giao thông, cùng bị bắt giữ, nhưng mục đích, động cơ (mặt chủ quan của phạm) để chất ma túy trong người của A khác với B ở chỗ: đối với A là nhằm mục đích để bán chất ma túy, còn đối với B là nhằm mục đích giao ma túy cho người khác để được trả công.

Do đó, tội danh đối với A là “Tội mua bán trái phép chất ma túy” (Điều 251), còn tội danh đối với B là “Tội vận chuyển trái phép chất ma túy” (Điều 250) và như vậy là đủ bốn yếu tố cấu thành phạm của từng tội.

Tư vấn xác định tội danh

Luật sư Lê Bá Thành thuộc Hãng Luật Thành Công tư vấn xác định tội danh

 

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hàng trong và ngoài nước.               

Với phương châm là “Sự hài lòng của Quý khách hàng chính là tiêu chí để đáng giá chất lượng dịch vụ của chúng tôi”, chúng tôi cam kết cung cấp các dịch vụ có chất lượng vượt trội hơn so với sự mong đợi của Quý khách hàng, với thái độ tận tậm, tận tụy, chuyên nghiệp, coi quyền lợi của Quý khách hàng chính là quyền lợi của Công ty để nỗ lực đạt được kết quả cuối cùng thật sự hoàn hảo và thoả mãn được các yêu cầu của Quý khách hàng.

Uy tín của Hãng Luật Thành Công đã được nhiều Lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp chứng nhận:

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh tụng, đã và đang tham gia nhiều vụ án hình sự với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.

Đặc biệt, đến với chúng tôi Khách hàng sẽ được tư vấn pháp luật trực tiếp bởi các Luật sư hàng đầu của Hãng Luật Thành Công. Khách hàng vui lòng để lại thông tin liên hệ, Hãng Luật Thành Công sẽ chủ động liên lạc lại với Quý khách trong thời gian sớm nhất.

Hoặc để thuận tiện hơn, Quý khách hàng nên gọi ngay đến số:  1900 633 710 để được nhận tư vấn rõ ràng, chuẩn xác từ các Luật sư đầu ngành. Hàng luật Thành Công sẽ giúp bạn tiết kiệm đối đa thời gian và công sức để tra cứu trên các website luật pháp không chính thống.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

  • Trụ sở chính: Số 114D đường Lê Lợi, Phường 4, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
  • CN Hóc Môn: Số 004A-004B Bùi Công Trừng, Ấp 3, Xã Đông Thạnh, Huyện Hóc Môn, TP. HCM
  • Hotline:  1900 633 710
  • Email:  congtyluatthanhcong@gmail.com
  • Website: hangluatthanhcong.vn

     

5/5

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up