10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng: Hiểu để không bị đi tù

Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay chỉ công nhận và đã có mức phạt cho tội vi phạm chế độ một vợ một chồng.

Trong những năm gần đây, tình hình tội vi phạm chế độ một vợ một chồng có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, hình thức và thủ đoạn đa dạng, tinh vi, làm ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc của các gia đình và làm tổn thương các tế bào của xã hội.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, pháp luật Việt Nam đặt ra những chế tài pháp lý áp dụng với những người cố ý không tuân thủ những quy định này. Trong đó, chế tài mang tính chất cưỡng chế mạnh mẽ và nghiêm khắc nhất đó chính là xử lý hình sự.

Hay nói cách khách, pháp luật Việt Nam bảo hộ và phát triển chế độ hôn nhân một vợ một chồng, bất kỳ hành vi nào phá vỡ quan hệ hôn nhân một vợ một chồng tùy từng mức độ có thể bị xử lý hình sự.

Vậy như thế nào là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng? Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với tội “Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng” được quy định như thế nào? Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu bài viết tư vấn chi tiết của Luật sư dưới đây:

1. Cơ sở pháp lý tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

– Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH (Hợp nhất Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018);

– Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

2. Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng là gì?

Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được hiểu là trường hợp nam, nữ đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc tuy chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ.

Theo khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

Việc chung sống này được chứng minh bằng việc họ có đời sống sinh hoạt chung, có tài sản chung, có con chung với nhau và được mọi người xung quanh thừa nhận là vợ chồng.

3. Các dấu hiệu cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Để truy cứu trách nhiệm về Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng thì cơ quan có thẩm quyền phải có nghĩa vụ chứng minh người phạm tội có các hành vi để đủ yếu tố cấu thành về tội danh này, ngược lại nếu không chứng minh được có hành vi vi phạm thì không được buộc tội.

Một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định tại Điều 182 BLHS 2015 nếu như hành vi của họ đáp ứng đủ các dấu hiệu cấu thành của tội phạm này. Bao gồm:

a. Mặt chủ thể tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

– Chủ thể của “Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” là người có năng lực trách nhiệm hình sự và thuộc một trong hai trường hợp sau:

• Là người đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật (nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên) và đang có vợ/ có chồng

• Là người đủ 16 tuổi trở lên tuy chưa có vợ/có chồng nhưng biết rõ người kia đang có vợ/có chồng.

b. Mặt khách thể tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Hiến pháp, Bộ Luật Hình Sự, Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam ghi nhận và bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

Tội phạm này có hành vi làm phá vỡ quan hệ hôn nhân một vợ một chồng, tác động trực tiếp và làm xâm hại đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng được luật hình sự bảo vệ.

c. Mặt chủ quan tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

– Người phạm tội “vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ về tính chất pháp lý của hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn lựa chọn thực hiện.

– Động cơ phạm tội thường là xuất phát bởi ham muốn thỏa mãn tham vọng của bản thân. Người phạm tội có mục địch là nhằm xác lập quan hệ hôn nhân mới hoặc nhằm được chung sống như vợ chồng với người khác.

d. Mặt khách quan tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Người phạm tội “vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” có hành vi thực hiện bằng một trong hai dạng hành động:

• kết hôn trái pháp luật
• chung sống như vợ chồng với người khác

Hoàn cảnh phạm tội đối với tội danh này là : bản thân mình là người đang có vợ/ có chồng hoặc bản thân là người chưa có vợ, có chồng nhưng lại biết rõ đối tác của mình là người đã có vợ/ có chồng.

– Việc kết hôn trái pháp luật thể hiện qua việc: dùng những thủ đoạn như khai báo gian dối là chưa từng kết hôn, hoặc mua chuộc cán bộ có thẩm quyền để tiến hành kết hôn nhằm xác lập quan hệ hôn nhân mới giữa nam, nữ trong khi chính họ đang có vợ hoặc chồng.

– Chung sống như vợ chồng với người khác (trong khi bản thân là người đang có vợ, có chồng hoặc bản thân tuy chưa có vợ, có chồng nhưng lại biết rõ đối tác của mình là người đang có vợ/có chồng) được hiểu là hành vi cùng sinh sống một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình.

Tuy nhiên, hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác chỉ cấu thành tội phạm khi thuộc một trong hai trường hợp sau đây:

• Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
• Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Một số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

1. Trường hợp người có chồng, có vợ hợp pháp nhưng đang ly thân mà kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ chồng thì vẫn bị coi là phạm vào tội này.

2. Nếu hậu quả nghiêm trọng xảy ra mà cấu thành một tội phạm khác thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó.

Ví dụ: A đi công tác xa đã chung sống với chị B như vợ chồng, nên đã tìm cách giết vợ để được chung sống với B một cách trọn vẹn. Hành vi của A bị truy cứu trách nhiệm về hai tội vì phạm chế độ một vợ một chồng và tội giết người.

4. Mức hình phạt đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

4.1. Khung hình phạt cơ bản tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

4.2. Khung hình phạt tăng nặng tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

5. Xử phạt vi phạm hành chính tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Trường hợp một người thực hiện các hành vi sau đây:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

Mà chưa có hậu quả nghiêm trọng như: làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng thì chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng”.

Do đó, theo khoản 1 điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, thì chỉ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền là từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

6. Một số lưu ý của Hãng Luật Thành Công tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

* Trường hợp 1: Nếu quan hệ hôn nhân đang tồn tại là quan hệ hôn nhân trái pháp luật mà một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Ví dụ: Đối với những người chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 trở đi nếu nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, thì pháp luật quy định không được công nhận là vợ chồng.

=> Khi đó, một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

* Trường hợp 2: Những người đã chung sống với nhau như vợ chồng (hôn nhân thực tế) trước ngày 03-01-1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn.

– Pháp luật thừa nhận những người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03-01-1987 và đang sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là trường hợp hôn nhân thực tế.

=> Do đó, trường hợp này được xem là người đang có vợ hoặc có chồng. Khi đó, một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

* Trường hợp 3: Nếu một trong hai người (nam hoặc nữ) bị lừa dối mà đồng ý kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có hành vi gian dối thì chỉ người có thủ đoạn gian dối mới bị coi là vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn người bị lừa dối không phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Ví dụ: Trần Trọng K là công nhân thuộc Công ty bảo dưỡng đường bộ NH. K đã có vợ hợp pháp ở quê và hai con. Do điều kiện công việc nên K thường xuyên phải sống xa nhà; năm 1993, K lừa dối để kết hôn với chị Tần Thị D và sinh được một con trai, đơn vị phát hiện đã xử lý hành chính và đã bị Tòa án nhân dân huyện hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa K với chị D. Năm 1999, K lại lừa dối chị Hoàng Thị O và chính quyền địa phương nơi K đang lao động để UBND xã lại đăng ký kết hôn cho K và O. Trong trường hợp này, chỉ có K là người có hành vi phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn chị D và O là người bị K lừa dối, không có hành vi phạm tội.

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up