10.000 khách hàng

Tin dùng thường xuyên

100% Luật Sư

có thẻ Luật sư

Hỗ trợ 24/7

Luôn sẵn sàng tư vấn

Tư Vấn Luật Tài Chính Ngân Hàng

LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG, 07 LƯU Ý CỦA LUẬT SƯ

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, tín dụng được xem là công cụ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế. Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về vốn càng cao, vai trò của các tổ chức tín dụng cũng được nâng cao trong hoạt động cho vay tín dụng. Hoạt động này tuy được đánh giá là thiết yếu cho nền kinh tế nhưng lại chứa đựng nguy cơ rủi ro lớn cho quyền lợi của bên cho vay trong trường hợp có tranh chấp xảy ra.

Nắm bắt được tình hình và thấu hiểu tâm lý của các bên trong quan hệ tín dụng, nay Hãng Luật Thành Công kính gửi đến Quý khách hàng, Quý độc giả bài viết với chủ đề “LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG, 07 LƯU Ý CỦA LUẬT SƯ”.

Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu các nội dung sau đây:

luật sư hồ đặng lâu

BÀI VIẾT NÀY BAO GỒM NHỮNG MỤC CHÍNH SAU ĐÂY:

  • Căn cứ pháp lý:

– Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 do Quốc Hội ban hành

– Văn bản hợp nhất 8020/VBHN-BTP năm 2013 hợp nhất Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm do Bộ Tư pháp ban hành.

– Văn bản hợp nhất 8019/VBHN-BTP năm 2013 hợp nhất Nghị định về giao dịch bảo đảm do Bộ Tư pháp ban hành.

I. Các biện pháp bảo đảm khoản vay

1. Hợp đồng tín dụng là gì?

Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 BLDS 2015. Cụ thể, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Theo đó, có thể hiểu hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên cho vay (các tổ chức tín dụng) với bên vay (pháp nhân, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định) về việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

2. Các biện pháp bảo đảm khoản vay

Khi tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng thì đi kèm với đó là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tại Điều 292 BLDS 2015 quy định có 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên trong quan hệ hợp đồng tín dụng chỉ có 05 biện pháp được sử dụng gồm: cầm cố, thế chấp, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Các biện pháp bảo đảm khoản vay được chia làm hai dạng là biện pháp bảo đảm bằng tài sản và biện pháp bảo đảm không bằng tài sản. Cụ thể:

– Các biện pháp bảo đảm bằng tài sản gồm:

+ Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.  Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

+ Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ hoặc các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

+ Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.

– Các biện pháp bảo đảm không bằng tài sản gồm:

+ Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

+ Tín chấp là việc các tổ chức chính trị – xã hội (Hội nông dân, Hội phụ nữ,…) tại cơ sở dùng uy tín của tổ chức để bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ nhằm thực hiện các chính sách xã hội. Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm.

II. Lưu ý khi giao kết hợp đồng tín dụng

Các bên khi tham gia giao kết hợp đồng tín dụng phải lưu ý các vấn đề sau đây để đảm bảo việc giao kết hợp đồng tín dụng diễn ra suôn sẻ, đúng quy định pháp luật và hạn chế xảy ra tranh chấp về sau, cụ thể:

Thứ nhất, khi giao kết hợp đồng tín dụng các bên phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Tự do giao kết hợp đồng nhưng mục đích vay vốn của hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội, đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thảo thuận trong hợp đồng.

– Các bên tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng.

– Bên vay vốn phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn quy định trong hợp đồng.

Thứ hai, chủ thể trong hợp đồng tín dụng gồm bên cho vay (các tổ chức tín dụng) và bên vay (tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định). Các chủ thể này phải đảm bảo đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật khi tham gia ký kết hợp đồng tín dụng. Cụ thể:

  • Đối với cá nhân:

– Tại Điều 16 BLDS 2015 quy định “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”. Theo đó, năng lực pháp luật dân sự bao gồm:

+ Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản

+ Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản

+ Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó

– Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự được quy định tại Điều 19 BLDS 2015. Theo đó, người từ đủ 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sụ đầy đủ, trừ một số trường hợp như: người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.

Như vậy, người thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên) được quyền tham giá ký kết hợp đồng, trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Đối với người dưới 18 tuổi khi tham gia giao kết hợp đồng phải có người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ đồng ý hoặc thực hiện trên sự đồng ý của người dưới 18 tuổi.

  • Đối với tổ chức

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự đươc quy định tại Điều 86 BLDS 2015. Một tổ chức được coi là pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+ Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan

+ Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của BLDS 2015

+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình

+ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

Như vậy, khi tham gia giao kết hợp đồng thì người đại diện pháp luật của tổ chức sẽ tham gia giao kết vừa phải đáp ứng điều kiện là cá nhân đồng thời phải đáp ứng điều kiện của tổ chức với tư cách người đại diện của tổ chức đó.

Thứ ba, kèm theo giao kết hợp đồng tín dụng là hợp đồng bảo đảm khoản vay. Các biện pháp bảo đảm khoản vay bằng tài sản được áp dụng với mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên vay, ngoài ra giúp giảm nguy cơ thiệt hại cho chủ nợ trong trường hợp có xảy ra tranh chấp. Các biện pháp bảo đảm khoản vay thường được sử dụng như: thế chấp tài sản, bất động sản, quyền sử dụng đất; cầm cố tài sản,… Như vậy, khi tham gia giao kết hợp đồng tín dụng thì các bên sẽ phải giao kết hai loại hợp đồng, đó là hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm khoản vay. Hai loại hợp đồng này có mối quan hệ pháp lý như sau:

+ Trường hợp hợp đồng tín dụng bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì hợp đồng bảo đảm chấm dứt. Nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng thì hợp đồng bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trường hợp hợp đồng bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng tín dụng; trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trường hợp hợp đồng tín dụng bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì hợp đồng bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng thì hợp đồng bảo đảm không chấm dứt; trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trường hợp hợp đồng bảo đảm bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm chấm dứt hợp đồng tín dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

luật sư hồ đặng lâu

Một số lưu ý của Luật sư Hồ Đặng Lâu:

1. Hợp đồng tín dụng vô hiệu toàn bộ là hợp đồng tín dụng được các bên ký kết không đáp ứng quy định của pháp luật, mục đích và nội dung lại vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, giả tạo,..Khi hợp đồng bị vô hiệu thì các bên sẽ không có cơ hội để sửa đổi các thiếu sót và làm cho hợp đồng có hiệu lực trở lại.

2. Hợp đồng tín dụng vô hiệu từng phần là hợp đồng khi một phần nội dung của hợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của hợp đồng. Theo đó, các bên có thể sửa đổi bổ sung các thiếu sót, các điều khoản vô hiệu một phần của hợp đồng tín dụng để hợp đồng tín dụng có hiệu lực toàn phần trở lại.

3. Hậu quả pháp lý của hợp đồng tín dụng vô hiệu:

– Hợp đồng tín dụng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm hợp đồng tín dụng được xác lập.

– Khi hợp đồng tín dụng vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

– Trường hợp có thiệt hại xảy ra thì bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại.

ĐỪNG NGẠI NGẦN GỌI ĐẾN CHÚNG TÔI THEO:

III. Lưu ý khi giao kết hợp đồng thế chấp tài sản

Thứ nhất, về bản chất thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm khoản vay, được áp dụng trong trường hợp bên vay không đủ uy tín, điều kiện để cho vay không có bảo đảm và nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro. Thế chấp tài sản đảm bảo cho tổ chức tín dụng có khả năng thu hồi số tiền cho vay trước đó trong trường hợp bên vay không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hợp đồng thế chấp mang bản chất của một giao dịch dân sự, đo đó hợp đồng thế chấp có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự về chủ thể, nội dung và mục đích không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Theo quy định pháp luật về hiệu lực của giao dịch bảo đảm thì giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Như vậy, hợp đồng thế chấp cũng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết nếu hợp đồng đó được giao kết hợp pháp, không quy định điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, trong trường hợp tài sản thế chấp bắt buộc phải thực hiện đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm hay phải công chứng, chứng thực thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp là thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc thời điểm công chứng, chứng thực.

Thứ hai, hợp đồng thế chấp tài sản là một trong những loại hợp đồng đảm bảo khoản vay được giao kết cùng lúc với hợp đồng tín dụng. Theo đó, hợp đồng thế chấp tài sản là hợp đồng phụ, hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính. Mối quan hệ giữa hai loại hợp đồng này được xác lập như sau:

+ Trường hợp hợp đồng tín dụng bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì hợp đồng thế chấp chấm dứt. Nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng thì hợp đồng thế chấp không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trường hợp hợp đồng thế chấp vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng tín dụng; trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trường hợp hợp đồng tín dụng bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì hợp đồng thế chấp chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng thì hợp đồng thế chấp không chấm dứt; trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trường hợp hợp đồng thế chấp bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm chấm dứt hợp đồng tín dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Thứ ba, tài sản được dùng để thế chấp trong hợp đồng thế chấp tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp và bên thế chấp không giao tài sản này cho bên nhận thế chấp. Khác với trường hợp cầm cố tài sản, bên cầm cố tài sản sẽ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận giao tài sản đó cho một bên thứ ba giữ tài sản thế chấp. Do đó, khi thực hiện giao kết hợp đồng thế chấp, bên thế chấp cần biết rõ về đặc điểm và bản chất của biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản để chủ động hơn trong quan hệ hợp đồng tín dụng cũng như tránh xảy ra tranh chấp không đáng có về sau.

Thứ tư, tài sản thế chấp phải là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch. Theo đó, tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:

– Tài sản được hình thành từ vốn vay

– Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm

– Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật

* Lưu ý: Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.

Thứ năm, việc công chứng hoặc chứng thực giao dịch bảo đảm do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì giao dịch bảo đảm phải được công chứng hoặc chứng thực. Mục đích của việc công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận thế chấp, nó không phải là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thế chấp vì hợp đồng thế chấp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác và thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm giao kết.

IV. Trình tự đăng ký giao dịch bảo đảm

1. Đăng ký giao dịch bảo đảm là gì?

Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.

2. Các giao dịch bảo đảm nào phải đăng ký?

Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản được đăng ký khi tổ chức, cá nhân có yêu cầu trừ các giao dịch bảo đảm sau đây bắt buộc phải đăng ký mà không cần có yêu cầu:

– Thế chấp quyền sử dụng đất

– Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng

– Thế chấp tàu bay, tàu biển

– Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định

3. Trình tự đăng ký giao dịch bảo đảm

a. Hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm

Hồ sơ đăng ký bao gồm: đơn yêu cầu đăng ký hoặc đơn yêu cầu đăng ký và các giây tờ khác theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Theo đó, đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm phải được kê khai theo đúng mẫu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Các giấy tờ xác định tư cách pháp lý của người yêu cầu đăng ký là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức, gồm: chứng minh nhân nhân, hộ chiếu, thẻ thường trú, văn bản cấp mã số thuế, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập, giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ khác cấp cho tổ chức nước ngoài theo quy định của pháp luật nước đó.

b. Phương thức nộp hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm

Hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được nộp theo một trong các phương thức sau đây:

– Nộp trực tiếp tại trụ sở của cơ quan đăng ký

– Gửi qua đường bưu điện

– Gửi qua fax hoặc gửi qua thư điện tử đối với đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản với điều kiện người yêu cầu đăng ký đã đăng ký khách hàng thường xuyên tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp

– Gửi qua hệ thống đăng ký trực tuyến

c. Tiếp nhận hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm

Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ, người thực hiện đăng ký ghi thời điểm nhận hồ sơ đăng ký (giờ, phút, ngày, tháng, năm) vào Đơn yêu cầu đăng ký và Sổ tiếp nhận hồ sơ đăng ký theo đúng thứ tự tiếp nhận hồ sơ.

Trường hợp hồ sơ đăng ký được nộp trực tiếp thì người thực hiện đăng ký cấp cho người yêu cầu đăng ký phiếu hẹn trả kết quả đăng ký, trừ trường hợp giải quyết ngay sau khi nhận hồ sơ đăng ký.

d. Thời hạn giải quyết

Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có trách nhiệm giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm trong ngày nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì hoàn thành việc đăng ký ngay trong ngày làm việc tiếp theo; trong trường hợp phải kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký thì cũng không quá 03 ngày làm việc tính từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ.

e. Thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm

Tùy thuộc vào từng loại tài sản bảo đảm mà thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định tương ứng, cụ thể:

– Đối với tài sản bảo đảm là tàu biển thì giao dịch bảo đảm sẽ được đăng ký tại Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải.

– Đối với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì giao dịch bảo đảm sẽ được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên môi trường.

– Đối với tài sản bảo đảm là tàu bay thì giao dịch bảo đảm sẽ được đăng ký tại Cục Hàng không Việt Nam trưc thuộc Bộ Giao thông vận tải.

– Đối với các tài sản bảo đảm còn lại sẽ được đăng ký giao dịch tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp.

f. Trả kết quả đăng ký giao dịch bảo đảm

Sau khi tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm thì kết quả đăng ký được cơ quan đăng ký trả cho người yêu cầu đăng ký theo một trong các phương thức sau đây:

– Trực tiếp tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm

– Gửi qua đường bưu điện

– Phương thức khác do cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và người yêu cầu đăng ký thỏa thuận.

4. Thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm

– Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm là thời điểm cơ quan đăng ký nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ

– Trường hợp tài sản bảo đảm là tàu bay, tàu biển thì thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm là thời điểm thông tin về giao dịch bảo đảm được ghi vào Sổ đăng bạ tàu bay, Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam

– Trường hợp tài sản bảo đảm là các tài sản khác không thuộc các trường hợp nêu trên thì thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm là thời điểm nội dung của đơn yêu cầu đăng ký được nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm

V. Trình tự xử lý tài sản bảo đảm

1. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Tài sản bảo đảm sẽ được xử lý khi thuộc các trường hợp sau:

Thứ nhất, đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Nghĩa vụ được phát sinh trên cơ sở các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng, không đầy nghĩa vụ sẽ gây thiệt hại cho bên có quyền, vì vậy bên có quyền sẽ xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ.

Thứ hai, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, pháp luật quy định tài sản bảo đảm phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.

Thứ tư, các trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.

2. Phương thức xử lý tài sản

Việc thực hiện xử lý tài sản được thực hiện theo các phương thức sau đây:

Một, bán tài sản bảo đảm là một trong những phương thức xử lý phổ biến nhất, cụ thể:

+ Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của các bên; nếu không có thỏa thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

+ Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

Theo đó, bên nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm (bên mua) có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào hoặc cũng có thể là bên nhận bảo đảm.

Hai, bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm. Phương pháp này khác với phương thức bán tài sản bảo đảm là việc chuyển quyền sở hữu tài sản bảo đảm từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm. Đối với trường hợp này, bên nhận chuyển nhượng tài sản chính là bên nhận bảo đảm và bên chuyển nhượng là bên đảm bảo.

Ba, bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ. Theo đó, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu người thứ ba là người có nghĩa vụ trả nợ chuyển giao các khoản tiền hoặc tài sản khác cho mình hoặc cho người được ủy quyền. Trong trường hợp bên nhận bảo đảm đồng thời là người có nghĩa vụ trả nợ thì bên nhận bảo đảm được bù trừ khoản tiền đó. Tóm lại, bản chất của trường hợp này là việc chuyển nhượng quyền đòi nợ từ bên bảo đảm sang bên nhận bảo đảm và giá trị của quyền đòi nợ có thể bù trừ với giá trị của nghĩa vụ bảo đảm.

Bốn, phương thức khác do các bên thỏa thuận.

3. Trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm

Bước 1: Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

– Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, người xử lý tài sản phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý tài sản bảo đảm cho các bên cùng nhận bảo đảm khác theo địa chỉ được bên bảo đảm cung cấp hoặc đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm.

– Đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị, quyền đòi nợ, giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm, vận đơn thì người xử lý tài sản có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó.

– Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm có nội dung chủ yếu sau đây:

+ Lý do xử lý tài sản;

+ Nghĩa vụ được bảo đảm;

+ Mô tả tài sản;

+ Phương thức, thời gian, địa điểm xử lý tài sản bảo đảm.

– Trong trường hợp người xử lý tài sản không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định mà gây thiệt hại cho các bên cùng nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm đã được đăng ký thì phải bồi thường thiệt hại.

Bước 2: Thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý

– Bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản theo thông báo của người này; nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản thì người xử lý tài sản có quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định để xử lý hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Khi thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, người xử lý tài sản có trách nhiệm:

+ Thông báo trước cho người giữ tài sản về việc áp dụng biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm trong một thời hạn hợp lý. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do, thời gian thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên;

+ Không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm.

– Trong trường hợp người giữ tài sản bảo đảm là người thứ ba thì bên bảo đảm có trách nhiệm phối hợp với người xử lý tài sản thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm.

– Bên bảo đảm hoặc người thứ ba giữ tài sản bảo đảm phải chịu các chi phí hợp lý, cần thiết cho việc thu giữ tài sản bảo đảm; trong trường hợp không giao tài sản để xử lý hoặc có hành vi cản trở việc thu giữ hợp pháp tài sản bảo đảm mà gây thiệt hại cho bên nhận bảo đảm thì phải bồi thường.

– Trong quá trình tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, nếu bên giữ tài sản bảo đảm có dấu hiệu chống đối, cản trở, gây mất an ninh, trật tự nơi công cộng hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác thì người xử lý tài sản bảo đảm có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm.

Bước 3: Bán tài sản bảo đảm

– Trong trường hợp các bên thỏa thuận phương thức xử lý tài sản bảo đảm là bán đấu giá tài sản thì việc bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.

– Trong trường hợp các bên thỏa thuận về việc bán tài sản không thông qua phương thức bán đấu giá thì việc bán tài sản bảo đảm được thực hiện theo các quy định về bán tài sản trong Bộ luật Dân sự và quy định sau đây:

+ Các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức có chức năng thẩm định giá tài sản để có cơ sở xác định giá bán tài sản bảo đảm;

+ Bên nhận bảo đảm phải thanh toán cho bên bảo đảm số tiền chênh lệch giữa giá bán tài sản bảo đảm với giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

+ Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm có trách nhiệm thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản bảo đảm.

VI. 07 lưu ý khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tranh chấp hợp đồng tín dụng là những mâu thuẫn phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên vay (cá nhân, tổ chức). Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản bảo đảm…Theo đó, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng các bên cần lưu ý 07 vấn đề sau đây:

Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng tín dụng thường có giá trị lớn. Cụ thể, bản chất của hợp đồng tín dụng là hợp đồng vay giữa bên cho vay (các tổ chức tín dụng) và bên vay (cá nhân, tổ chức). Theo đó, bên vay đặc biệt là doanh nghiệp thường hướng đến các tổ chức tín dụng để vay những khoản vay lớn nhằm góp vốn kinh doanh. Bên cho vay đáp ứng nhu cầu của bên vay dựa trên nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể khác trong thị trường chứ không phải tiền từ túi của bên cho vay. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp hợp đồng tín dụng thường gắn liền với những hợp đồng tín dụng có giá trị tài sản lớn và có tính quyết liệt vì lý do chính là ảnh hưởng của hiệu ứng dây chuyền. Cụ thể, nếu bên cho vay không thu hồi được nợ xấu thì không thể luân chuyển vốn trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khi mà dòng tiền được thiết lập theo cơ chế lấy tiền vay từ chủ thể này đi cho chủ thể khác vay lại. Từ đó, dễ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ do nợ xấu tăng cao, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của bên cho vay.

Thứ hai, tranh chấp hợp đồng tín dụng thường gắn với các giao dịch bảo đảm. Bởi lẽ, khi ký kết hợp đồng tín dụng mà bên cho vay là ngân hàng thương mại thì phải có tài sản bảo đảm cũng như sử dụng các biện pháp bảo đảm như thế chấp, cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Theo đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng các bên cũng phải tìm hiểu về giao dịch bảo đảm kèm theo để xem xét phương thức, thủ tục và trình tự xử lý tài sản bảo đảm.

Thứ ba, tranh chấp hợp đồng tín dụng thường có sự tham gia của bên thứ ba trong trường hợp bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín đồng. Cụ thể, trong quá trình bên cho vay và bên vay ký kết hợp đồng tín dụng thì bên thứ ba không trực tiếp ký nhưng đứng ra chịu trách nhiệm trả nợ thay cho bên vay. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra thì bên thứ ba lại bị cuốn vào và phải đứng ra trả nợ thay cho bên vay nếu bên vay không trả được nợ mặc dù bên thứ ba không hề ký kết trực tiếp trên hợp đồng. Vì vậy, phải xem xét đến vấn đề có hay không sự tham gia của bên thứ ba khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Thứ tư, giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng được thực hiện theo 4 phương thức gồm: thương lượng, hòa giải, giải quyết tại Tòa án và giải quyết tại Trọng tài Thương mại. Theo đó, các bên tham khảo và lựa chọn phương thức phù hợp nhất để giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, cụ thể:

Một, thương lượng giữa các bên là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào. Phương thức này thuận lợi ở chỗ đơn giản, nhanh chóng, chi phí thấp, không bị ràng buộc bởi các thủ tực, trình tự phức tạp, đảm bảo yếu tố bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, hạn chế của phương thức này là kết quả giải quyết phụ thuộc vào thiện chí của các bên và không mang tính cưỡng chế.

Hai, hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh. Phương thức này chủ yếu dựa trên ý thức tự nguyện của các bên, không chịu sự ràng buộc của các thủ tục, trình tự pháp lý nhưng lại tốn kém chi phí.

Ba, giải quyết tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tòa án thực hiện theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ. Đây là phương thức giải quyết mang tính bắt buộc cưỡng chế cao nhất mà các phương thức khác không có. Cụ thể, phán quyết của Tòa án là phán quyết cuối cùng, mang tính cưỡng chế cao và bắt buộc các bên phải thi hành, nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế. Tuy nhiên, phương thức này thiếu tính linh hoạt và quy định cứng nhắt vì phải tuân theo trình tư, thủ tục, quy định pháp luật và có thời gian giải quyết kéo dài hơn so với các phương thức khác.

Bốn, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết thông qua hoạt động của Trọng tài viên với kết quả cuối cùng là phán quyết trọng tài buộc các bên tôn trọng và thực hiện. Hình thức này chỉ được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi có tranh chấp xảy ra. Phương thức này có thủ tục đơn giản, giải quyết nhanh chóng, tính khách quan cao, đảm bảo bí mật kinh doanh nhưng gây tốn kém chi phí nếu thời gian tranh chấp bị kéo dài.

Thứ năm, trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng phải đáp ứng các yêu cầu sau để đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia, cụ thể:

– Tranh chấp cần được giải quyết một cách kịp thời, chính xác, đúng pháp luật, để hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro và có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh mới cho các chủ thể tham gia tranh chấp.

– Trong quá trình giải quyết tranh chấp phải bảo đảm giữ được bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của các bên trong quan hệ tranh chấp.

– Quá trình giải quyết cần đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp.

Thứ sáu, trường hợp chỉ có tranh chấp về hợp đồng bảo đảm, không có tranh chấp về tín dụng, thì vẫn phải khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, chứ không khởi kiện độc lập hợp đồng bảo đảm, vì tín dụng là hợp đồng chính, bảo đảm là hợp đồng phụ. Hay nói cách khác, hợp đồng bảo đảm phụ thuộc vào hợp đồng tín dụng vì là một bộ phận của hợp đồng tín dụng. Mặc dù tín dụng là hợp đồng chính, nhưng nếu bị vô hiệu thì không dẫn đến việc vô hiệu hợp đồng bảo đảm là hợp đồng phụ theo quy định về hợp đồng vô hiệu tại BLDS 2015.

Thứ bảy, việc giải quyết tranh chấp phải đáp ứng các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng, cụ thể:

– Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Theo đó việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, luật áp dụng, phương thức giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng phải được tôn trọng và ưu tiên áp dụng. Nguyên tắc này đảm bảo quyền tự do đàm phán, giao kết của thương nhân trong hoạt động kinh doanh thương mại.

– Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Các bên có quyền bình đẳng trong việc áp dụng pháp luật, quyền đưa ra các yêu cầu với cơ quan giải quyết tranh chấp.

– Nguyên tắc xét xử tranh chấp hợp đồng dựa trên chứng cứ hợp pháp, quy định pháp luật và án lệ được Tòa án nhân dân tối cao công bố.

Tư vấn luật tài chính ngân hàng

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hàng trong và ngoài nước.               

Với phương châm là “Sự hài lòng của Quý khách hàng chính là tiêu chí để đáng giá chất lượng dịch vụ của chúng tôi”, chúng tôi cam kết cung cấp các dịch vụ có chất lượng vượt trội hơn so với sự mong đợi của Quý khách hàng, với thái độ tận tậm, tận tụy, chuyên nghiệp, coi quyền lợi của Quý khách hàng chính là quyền lợi của Công ty để nỗ lực đạt được kết quả cuối cùng thật sự hoàn hảo và thoả mãn được các yêu cầu của Quý khách hàng.

Uy tín của Hãng Luật Thành Công đã được nhiều Lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp chứng nhận:

Hãng Luật Thành Công (TC Lawyers) được thành lập bởi các Luật sư, Luật gia và các Chuyên gia về pháp luật, luôn không ngừng phấn đấu để trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Đặc biệt, đến với chúng tôi Khách hàng sẽ được tư vấn pháp luật trực tiếp bởi các Luật sư hàng đầu của Hãng Luật Thành Công. Để tránh mất nhiều thời gian tìm kiếm nguồn thông tin, lại gặp những kiến thức không chuyên môn, chưa giải đáp được vấn đề đang gặp phải.

Khách hàng vui lòng để lại thông tin liên hệ, Hãng Luật Thành Công sẽ chủ động liên lạc lại với Quý khách trong thời gian sớm nhất.

Hoặc để thuận tiện hơn, Quý khách hàng nên gọi ngay đến số:  1900 633 710 để được nhận tư vấn rõ ràng, chuẩn xác từ các Luật sư đầu ngành. Hàng luật Thành Công sẽ giúp bạn tiết kiệm đối đa thời gian và công sức để tra cứu trên các website luật pháp không chính thống.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

  • Trụ sở chính: Số 114D đường Lê Lợi, Phường 4, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
  • CN Hóc Môn: Số 004A-004B Bùi Công Trừng, Ấp 3, Xã Đông Thạnh, Huyện Hóc Môn, TP. HCM
  • Hotline:  1900 633 710
  • Email:  congtyluatthanhcong@gmail.com
  • Website: hangluatthanhcong.vn

 

5/5

Bạn muốn được tư vấn, vui lòng gọi hotline miễn phí

Arrow-up